Suy Niệm Lời Chúa-みことばの食卓

Tháng 1 Năm 2020

SUY NIỆM LỜI CHÚA
CHÚA NHẬT LỄ CHÚA HIỂN LINH
Ngày 05 tháng 01-2020

Ơn Cứu Độ và Hành Trình Đức Tin

Hằng năm sau dịp Lễ Chúa Giáng Sinh, Giáo hội mời gọi mỗi người chúng ta suy nghĩ về tính phổ quát của ơn Cứu độ và hành trình đức tin của mình ngang qua Phụng Vụ Chúa Nhật Chúa Hiển Linh.
Trước hết, mặc dù ơn Cứu độ của Chúa được xuất phát từ một dân tộc được chọn, nhưng khi Chúa Giê-su được sinh ra và khi Người tỏ mình cho ba vị đạo sĩ đến từ Phương Đông xa xôi, Chúa muốn chúng ta nhận ra rằng: ơn Cứu độ mà Chúa Giê-su mang lại không bị gò bó nơi bất cứ vùng miền hay hội nhóm nào. Đúng hơn ơn Cứu độ đó có tính phổ quát và được ban cho bất kỳ ai có thiện tâm khao khát đi tìm Chân Lý. Ơn Cứu độ đó chính là gặp gỡ Con Thiên Chúa làm người và nhận Ngài là Vua, là cứu cánh của đời mình.
Kể từ sau Thánh Công Đồng Vatican II, Giáo hội không còn khẳng định “ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ”, nghĩa là những người ngoài cơ cấu hữu hình của Giáo hội sẽ không được cứu rỗi. Giáo hội đã đi một bước tiến xa khi nhìn nhận rằng bất cứ ai “thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa, và dưới tác động của ân sủng, họ cố gắng hành động để chu toàn thánh ý Thiên Chúa được biểu bộ qua sự hướng dẫn của lương tâm, thì vẫn có thể đạt được ơn cứu độ vĩnh cửu” (Hiến Chế Tín Lý Về Giáo Hội – LG – số 16). Đây chính là điểm nhấn của sự hiệp nhất đại kết. Trong bối cảnh đối thoại liên tôn cũng như trong bối cảnh ngày càng nhiều các gia đình đa tôn giáo, chúng ta được mời gọi để ý thức rằng Thiên Chúa là Cha yêu thương, luôn luôn có ước muốn cứu độ tất cả mọi người, không loại trừ bất kỳ tạo vật nào. Chúa Giê-su là hiện thân của Thiên Chúa làm người ở giữa nhân loại. Người đã vâng phục cho đến chết treo trên thập giá để thực hiện ý định cứu độ của Thiên Chúa.
Mặc dù có nhiều người (theo thể chế pháp lý) vẫn chưa thuộc về Giáo hội mà Chúa Giê-su thiết lập, nhưng khi bước theo ánh sáng của một lương tâm ngay thẳng, họ thuộc về Dân Thiên Chúa, thuộc về Giáo hội cách nào đó xét trên phương diện Giáo hội là Nhiệm Thể của Chúa Ki-tô. Mặc dù họ được ơn cứu độ theo ý muốn nhiệm mầu của Thiên Chúa nhưng họ vẫn được mời gọi để gặp gỡ chính Đấng Thiên Chúa làm người. Nhờ đó, đời sống của họ sẽ được đổi mới như ba vị đạo sĩ đã đi đường khác mà về sau khi gặp được Hài Nhi Giê-su.
Đi tìm Chân Lý và sống theo Sự Thật là một hành trình đức tin đầy gian lao thử thách. Khởi đầu cho hành trình đức tin là nhận ra “ánh sao lạ” trong cuộc sống tự nhiên, tượng trưng cho ơn thánh xuất phát từ Thiên Chúa. Khi họ tiếp nhận ánh sao ấy thì nó trở nên ánh sáng chỉ đường cho họ. Tuy nhiên trên hành trình ấy, “ánh sao lạ” đã đôi lần biến mất, khiến đời sống của chúng ta chao đảo mất phương hướng. Khi ấy, sự kiên nhẫn và đối thoại là phương cách giúp chúng ta tìm thấy lại được ánh sáng đã mất.
Không ít lần chúng ta tự hỏi Thiên Chúa đang ở đâu, sự bình an của Chúa đang ở nơi nào khi mà cuộc sống này có quá nhiều đau khổ lầm than. Thế nhưng chúng ta có bao giờ tự hỏi chúng ta có thiện tâm tìm kiếm Chúa không (Bình an dưới thế cho người thiện tâm), có thiện tâm đối với những những người xung quanh không, có kiên nhẫn và có thiện tâm đối thoại không. Những thử thách trong hành trình đức tin không phải là dấu hiệu Thiên Chúa bỏ rơi con người, mà là những cơ hội để con người nghiệm sâu hơn về đức tin, về Chân lý và Sự thật. Đức tin không thử thách là đức tin dễ dàng; đức tin thất bại trước thử thách là đức tin dễ dãi; đức tin chấp nhận thử thách mới là đức tin đích thực dẫu cho nhiều khi chẳng dễ chịu chút nào.
Lễ Chúa Hiển Linh còn có một tên gọi khác là Lễ Ba Vua. Ba ông lên đường, bỏ lại sau lưng cuộc sống cũ để cùng nhau tìm kiếm một vị VUA mới sinh. Hình ảnh của ba người này gợi nhắc chúng ta rằng hành trình đức tin của chúng ta không bao giờ được thực hiện cách cá nhân riêng lẻ. Đúng hơn, đức tin được sống trong sự liên đới và đồng hành. Thực tế trong hành trình đức tin của mình, chúng ta cần có những người bạn đồng hành để chia sẻ và giúp nhau vượt qua những thử thách của cuộc sống.
Có nhiều khi chúng ta cảm thấy rằng mình chẳng thích các giáo điều này hay những luật lệ kia, nhưng dễ dàng bị chinh phục bởi gương sáng đức tin của một thánh nhân nào đó. Trong xã hội hiện nay vẫn còn có nhiều gương sáng về đức tin. Ước mong ơn Cứu độ phổ phát của Thiên Chúa được trở nên dấu chỉ hữu hình nơi cuộc sống đức tin của mỗi người ki-tô hữu chúng ta.

GB Phan Đức Định sj

CHÚA NHẬT LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA
12-01-2014

Bài đọc: Is 42,1-4.6-7; Cvtđ 10,34-38; Mt 3,13-17.
Bài Phúc âm hôm nay trình bày một câu chuyện có vẻ hơi trái khoáy: Gioan Tẩy giả khi thực hiện phép rửa bằng nước cho dân, hướng họ nhìn xa hơn về một Đấng sẽ đến để làm phép rửa trong Thánh Thần và Lửa; nhưng khi Chúa Giêsu xuất hiện thì chúng ta không thấy Ngài làm phép rửa cho người khác, mà ngược lại chính Ngài cũng bước xuống nước để nhận phép rửa từ tay Gioan.
Ngay trong Giáo hội sơ khai, sự kiện Chúa chịu phép rửa này đã gây nhiều bối rối thắc mắc trong những thế hệ Kitô hữu đầu tiên. Để dung hoà sự kiện này với niềm xác tín Chúa là Đấng không vương tội lỗi, có người đã cho rẳng Chúa làm như vậy để vửa lòng bà con họ hàng là những người lúc bấy giờ không hiểu căn tính thực của Ngài (!) Một lối giải thích khác phổ biến hơn (mà ngay cả bây giờ nhiều người vẫn ưa dùng) là chẳng qua Chúa muốn làm guơng khiêm nhường cho mọi người – nhưng lối này không thoả đáng vì vô tình nó gán cho hành vi của Chúa một tính cách ‘trình diễn’ chứ không có gì sâu xa hơn!
Thực ra nếu nhìn trong viễn tượng toàn cục của Tin Mừng, thì như Edward Schillebecks đã chỉ ra, phép rửa hôm nay là “Cử chỉ ngôn sứ” (prophetic gesture) đầu tiên trong cuộc đời công khai của Chúa để khơi mào cho sứ vụ của Ngài. Sứ vụ này sẽ đạt đến chung điểm nơi cuộc khổ nạn Thập giá mà chính Chúa sẽ nói tới như “một phép rửa khác” mà Ngài sẽ lãnh nhận (xem Mc 10:38-39; Lc 12:50) SÔNG JORDAN và ĐỒI GOLGOTHA là hai cực không thể tách rời về mặt ý nghĩa.
Khi Chúa Giêsu bắt đầu cuộc đời rao giảng của Ngài, có thể nói trong tôn giáo Do thái bấy giờ có năm khuynh hướng. Theo như Aloysius Pieris, SJ phân tích thì Chúa không bị lôi cuốn bởi ý thức hệ hẹp hòi của phái Zealots cũng như chủ nghĩa tinh tuyền bộ phái (sectarian puritanism) của nhóm Essenes. Ngài cũng từ chối thái độ tự cho mình là công chính (self-righteousness) của người Pharisêu hoặc truyền thống quý tộc trửong giả của bè Sadducces. Duy chỉ nơi tinh thần khổ hạnh ngôn sứ (prophetic ascetism) của Gioan Tầy giả, Ngài mới thấy một linh đạo chân chính (tuy còn bất toàn) có thể chấp nhận được như một điểm khởi đầu cho sứ điệp của Ngài. Vể điểm này, việc nhận phép rửa từ tay Gioan nói lên sự chọn lựa của Chúa.
Lời phán từ trời ghi lại trong câu 22 bao gồm hai lời trong Cựu Ước: “Con là con yêu dấu của Cha” là câu Thánh vịnh 2,7 nói về vị Vua Messiah, còn “Cha rất hài lòng về con” là câu Isaiah 42,1 nói về người tôi tớ đau khổ của Yahweh. Như vậy, ở đây Thiên Chúa Cha đã chuẩn nhận Giêsu như Đấng Messiah và con đường Ngài đã chọn. Đó không phải là con đường của quyền lực và vinh quang, nhưng là Con đường của Hy sinh và Phục vụ, con đường của Khổ đau và Thập giá.
Có lẽ bài học cho chúng ta ở đây là về TÌNH LIÊN ĐỚI với người khác (nhất là với những người chúng ta nghĩ là ‘tội lỗi’ hơn mình.) hơn là về Lòng Khiêm Nhường hiểu như một nhân đức cá nhân. Chúa Giêsu đã đảm nhận trọn vẹn thân phận con người – Người không cần phải sám hối vì tội lỗi gì riêng của mình, nhưng Người cũng sám hối chung với mọi người vì Ngừoi liên đới với tất cả trong hậu quả của tội lỗi. Mỗi người chúng ta không chỉ chịu trách nhiệm cá nhân về những tội lỗi riêng của mình thôi, mà còn có trách nhiệm tập thể về những gì xấu nơi anh em mình nữa. Như Louis Evely nhận xét, ngay KINH LẠY CHA cũng là một kinh của tình liên đới – Chúa dạy chúng ta cầu nguyện “Xin Cha tha nợ cho chúng con”, chứ không phải là “Xin Cha tha nợ cho con!”

Gioan Đàm x Lộ

CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN
19-01-2020

 

Thánh Gioan Tẩy Giả và Chúa Giêsu

Bài tin mừng hôm nay kể lại cho chúng ta việc thánh Gioan tẩy Giả giới thiệu cho mọi người về Chúa Giêsu. Chúng ta cùng tìm hiều những lời giới thiệu của vị ngôn sứ cuối cùng của thời Cựu Ước về Chúa Giêsu.
Trước hết, thánh nhân đã cho mọi người về biết về căn tính của Chúa Giêsu khi nói: “đây là Chiên Thiên Chúa Đấng xoá bỏ tội trần gian”. Chúa Giêsu chính là Đấng Mesia mà dân Do Thái đang mong đợi. Đấng Mesia được ví với hình ảnh “con chiên”. Con chiên thường được dùng như một vật tế lễ trong truyền thống của người Do Thái. Con chiên được sát tế để là hy lễ đền tội thay cho người dâng của lễ. Chúa Giêsu chính là Chiên Thật. Ngài để hiến mạng sống mình làm giá chuộc muôn người.
Kế đến, thánh Gioan so sánh thân phận của mình với Chúa Giêsu. Nên nhớ rằng thánh Gioan tẩy Giả chào đời và bắt đầu rao giảng công khai trước Chúa Giêsu. Khi Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ công khai của Ngài thì thánh Gioan Tẩy Giả đã có một vị thế nhất định trong xã hội Do Thái lúc bấy giờ. Có lúc người ta còn nghĩ rằng Ngài là Đấng Ki-tô. Tuy nhiên, thánh nhân không ngần ngại tuyên bố rằng: “Người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi vì có trước tôi”. Trong tin mừng theo thánh Gioan chương 1 câu 27, thánh Gioan Tẩy Giả còn nhấn mạnh: “tôi không đáng cởi quai dép cho Người”. Thánh nhân đã dẹp qua cái nhu cầu khẳng định vị thế của mình để cho người khác biết được căn tính đích thực của Chúa Giêsu. Ngài đã chấp nhận lùi vào hậu trường để cho Chúa Giêsu được lớn lên.
Cuối cùng, thánh nhân mạnh dạn làm chứng và đưa ra những dấu chỉ để củng cố thêm lời chúng của mình về Chúa Giêsu khi nói: “tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người”. Chúa Giêsu được ban tràn đầy Chúa Thánh Thần để bắt đầu sứ vụ công khai của Ngài. Thần Khí là bảo chứng cho căn tính cũng như sứ mạng của Chúa Giêsu. Thánh Gioan Tẩy Giả đã tuyên bố nhìn thấy Thần Khí ngự trên Chúa Giêsu. Điều này gợi nhớ những lời tiên tri Isaia đã loan báo về Đấng Cứu Thế: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, sai tôi đi rao giảng tin mừng cho người nghèo…” (Is62,1).
Cuộc đời và cách sống của thánh Gioan Tẩy Giả chính là mẫu gương cho những người muốn trở nên môn đệ của Chúa Giêsu. Trở nên môn đệ của Chúa Giêsu có nghĩa là chấp nhận cho cái tôi của mình trở nên bé đi hầu làm cho Chúa được lớn lên. Có nghĩa là dám khiêm tốn nhìn nhận mình chẳng là gì cả và chỉ có Chúa là tất cả. Người môn đệ của Chúa Giêsu không được yêu cầu để rao giảng về mình nhưng là nói về Chúa Giêsu. Môn đệ của Chúa Giêsu được mời gọi để dồn tất cả sự chú ý vào Chúa Giêsu bởi vì chỉ có Ngài là Đấng gánh tội đích thực của trần gian.
Giuse Nguyễn Thanh Nhã SJ

CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN
26-01-2020

TRỞ VỀ

Kính thưa cộng đoàn Phụng vụ! Giáo hội mời gọi chúng ta bước vào Mùa Thường Niên với tâm tình của những người con của sự sáng, với tinh thần của những ai sống tình liên đới và với tâm hồn của người sống theo Tin Mừng. “Chín người mười ý” là lẽ thường tình; thế nhưng chúng ta vẫn trở nên đồng tâm nhất trí với nhau nhờ ơn Chúa và sự bỏ mình hầu hướng tới những điều chung nhất. Các bài đọc hôm nay giúp chúng ta nhận ra tiếng Chúa mời gọi và sẵn sàng đáp trả lời ấy.
Trước hết, chúng ta được trở nên con cái sự sáng khi lãnh nhận bí Tích Rửa tội; chúng ta được bước đi trong ánh sáng của niềm hoan hỷ chứa chan khi được trở nên con cái Chúa như những gì được miêu tả trong bài đọc I trích sách Tiên tri I-sai-ah “dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi” (Is 9, 1). Thế nhưng tiếc thay, trong thực tế, chúng ta cứ hành xử theo thói thường hay xu hướng của chính mình ‘bước đi trong bóng tối, ngủ vùi trong đam mê’. Vì vậy, dần dần chúng ta xa rời ánh sáng, mà trở nên đầy tớ của bóng đêm thay vì sứ giả của sự sáng. Chúng ta cần quay trở về với nguồn sáng – chính là Thiên Chúa; và muốn được vậy, chúng ta cần lắng nghe lời đầu tiên của Chúa Giê-su khi bắt đầu công cuộc rao giảng Nước Trời, đó là “hãy hối cải (hãy sám hối), vì Nước Trời đã gần đến” (x. Mt 4, 17). Tại sao Chúa Giê-su không dùng những lời khác, mà Ngài lại kêu gọi “hãy hối cải” hay “hãy sám hối”? Phải chăng, Ngài thấu rõ tâm thế, tình trạng của chúng ta cần được quay trở về với ơn gọi của mình – con cái và sứ giả của sự sáng!
Một khi trở về với lòng mình, quay về ơn gọi-sứ mạng của chính mình, chúng ta sẽ không quá chú trọng đến sự khác biệt của anh chị em, mà luôn luôn tìm ra những gì chung nhất để chấp dứt mọi xung đột, tranh chấp, chia rẽ và bè phái trong cộng đoàn như Chúa đã mời gọi chúng ta qua thư của Thánh Phao-lô Tông Đồ gửi cho giáo đoàn Cô-rin-tô “tất cả anh em hãy đồng tâm hợp ý với nhau, và giữa anh em, đừng có chia rẽ” (1Cr 1, 10). Một khi là con cái sự sáng, chúng ta cũng bước theo con đường liên đới, hiệp nhất và đón nhận anh chị em như Chúa đã-đang-sẽ đón nhận chúng ta hằng ngày cho dẫu chúng ta bất xứng với tình yêu mà Chúa luôn dành cho chúng ta.
Với ý thức trở về với Chúa, mặc lấy tâm tình, sứ mạng của con cái sự sáng, sứ giả của tình hiệp nhất, chúng ta cũng được mời gọi học lấy gương các Thánh Tông đồ đầu tiên sẵn sàng đáp lời mời gọi của Chúa “hãy theo Ta…Ta sẽ đặt các ngươi trở thành ngư phủ lưới người ta” (x. Mt 4, 19). Nói cách khác, Chúa mời gọi các ngài trở nên sứ giả Tin Mừng, trở nên chứng nhân Nước Trời. Tuy Chúa mời gọi mỗi người mỗi khác, nhưng cùng chung một sứ mạng, đó là: làm nhân chứng cho Ngài. Là một linh mục, Chúa mời gọi các ngài sống kết hiệp mật thiết với Ngài hằng ngày qua Thánh lễ, qua việc cử hành các Bí tích, sống-làm chứng cho những gì các ngài giảng dạy, đồng hành-chăm sóc con chiên cũng như ra công truyền giảng Tin Mừng. Là một người cha, người mẹ Công giáo trong gia đình, Chúa cũng mời gọi chúng ta sống yêu thương, hy sinh, đón nhận nhau và chăm sóc, giáo dục con cái không những trong đời sống thể lý-tinh thần, mà còn hướng dẫn các con trong đời sống đức tin; và qua đó sống hài hoà, tha thứ mọi người trong gia tộc, trong lối xóm. Hơn nữa, trong mọi trạng huống hay hoàn cảnh nào, Chúa cũng mời gọi mỗi chúng ta trở nên chứng nhân Tin mừng chứ không phải làm chứng dối chứng gian; trở nên chứng nhân Tin vui từ chính Chúa, chứ không phải tin buồn, tin đồn thổi thứ thiệt, hay tin vịt từ xã hội thực dụng ngoài kia…; và trở nên sứ giả của Chân lý chứ chẳng phải đầy tớ của sự gian trá, lọc lừa…
Ước gì Lời Chúa in sâu trong tâm trí, tâm khảm của mỗi chúng ta! Để mỗi khi chúng ta làm gì, nói gì, lên kế hoạch gì thì cũng ý thức rằng:
mỗi người chúng ta là con cái của sự sáng, không là đầy tớ của bóng đêm,
mỗi người chúng ta là sứ giả của tình hiệp nhất, chứ không là đầy tớ của bè phái,
mỗi người chúng ta là sứ giả của Tin Mừng, chứ không là đầy tớ của tin buồn.

Cảm tạ Chúa đã mời gọi con
Yêu thương con sắt son vuôn tròn
Mong ra đời bao lời nỉ non
Nuôi nấng con lớn khôn từng ngày. Amen!
Lm . Xuân Hy Vọng