Suy Niệm Lời Chúa-みことばの食卓

SUY NIỆM LỜI CHÚA
CHÚA NHẬT XXXI THƯỜNG NIÊN
NGÀY 04 THÁNG 11

Con Muốn Yêu Chúa
Phụng Vụ Lời Chúa trong tuần XXXI Thường Niên (B) hôm nay mời gọi chúng ta nhớ lại, suy gẫm và thực hành giới răn quan trọng nhất là mến Chúa – yêu người. Bài Đọc 1 và bài Tin Mừng nhắc nhớ chúng ta rằng Chúa là trung tâm và là cùng đích của cuộc đời. Yêu Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực sẽ cho chúng ta một cuộc đời đầy ý nghĩa và một hạnh phúc mãi mãi vào ngày sau hết. Thiên Chúa muốn chúng ta yêu để được nên giống Ngài. Tình yêu cao quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ. Chính Ngài là Tình Yêu. Chính Ngài đã yêu chúng ta trước bằng một Tình Yêu Sáng Tạo và Cứu Chuộc. Tình Yêu ấy vô điều kiện, nồng nàn và không hề thay đổi.
Thế nhưng làm thế nào để yêu Chúa trọn vẹn đây? Phải chăng chỉ là giữ luật, tham dự các nghi lễ và không làm hại ai? Có một người nọ đến gặp Chúa Giê-su và hỏi: Thưa Thầy nhân lành, con phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp? Chúa bảo hãy đi bán tất cả của cải mà bố thí cho người nghèo rồi sau đó theo Chúa. Người ấy sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi, mặc dù anh ta đã giữ luật và “ăn ngay ở lành” từ thuở nhỏ (x. Mc 10, 17-22). Chỉ vì quyến luyến của cải trần gian hơn là yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự và yêu thương người nghèo như Chúa yêu, mà anh nhà giàu đó đã đánh mất hạnh phúc thực sự ở trong Nước Trời.
Nhiều người vẫn đang khắc khoải tìm Chúa và cố gắng yêu Chúa với cả trí lòng như Chúa muốn. Nhưng Chúa ở đâu? Ngài là Đấng thiêng liêng. Làm sao tôi có thể yêu mến Ngài được? Yêu trong tưởng tượng là yêu thế nào được? Tôi muốn nghe tiếng nói của người yêu, muốn nhìn thấy, muốn chạm, muốn ôm, muốn hôn và muốn chia sẻ tất cả niềm vui nỗi buồn với người mình yêu bằng trọn cả con tim.
Có những người tách mình ra khỏi xã hội để sống giữa núi rừng thiên nhiên mà thanh thản tìm gặp Chúa, ca tụng Chúa không ngừng. Có những người hòa mình trong xã hội để phục vụ những mảnh đời bất hạnh và họ tìm gặp Chúa nơi anh chị em nghèo khổ đó. Có những người suốt đời chỉ làm những việc thấp hèn, không tên nhưng họ vui vì tin Chúa và yêu mến Chúa ngang qua những công việc hàng ngày như thế. Một nụ cười, một cái bắt tay, một sự quan tâm với anh chị em xung quanh cũng là những biểu lộ của tình yêu Chúa. Vì sao thế?
Thánh Gioan xác quyết rằng: “tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. …Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu… Nếu ai nói: ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (x. 1Ga 4, 7-21). Bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giê-su cũng khẳng định mến Chúa yêu người sẽ đảm bảo cho chúng ta một cuộc sống trọn vẹn trong Nước Trời. Vâng, Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa Nhập Thể. Ngài hiện diện ở khắp mọi nơi, trong thiên nhiên và trong mọi người, và nhất là những nơi khốn cùng, nơi những người nhỏ bé bị bỏ rơi (x. Mt 25, 31-46). Ngài hiện diện ở nơi những người gần gũi với tôi nhất, là vợ là chồng, là cha là mẹ, là con cái, là anh chị em trong cùng một nhà.
Để có thể gặp Chúa và biết làm thế nào để yêu Chúa thực sự, một phương cách giúp chúng ta đó là đọc Lời Chúa (đọc Kinh Thánh) trong cầu nguyện. Khi ấy chúng ta thấy rằng yêu Chúa chính là mở tâm hồn mình ra, phá bỏ những bức tường của sự ích kỷ và dối trá, và đón nhận những người anh chị em xung quanh. Hãy bắt đầu với những người thân, những người trong cùng một cộng đoàn, những người gần gũi chúng ta nhất. Yêu thương họ như chính mình thì chúng ta sẽ biết thế nào là yêu Chúa. Yêu là dâng hiến, là hy sinh. Khởi đi từ yêu thương gia đình, rồi đến yêu thương những người nghèo khổ như Chúa yêu, chúng ta sẽ khám phá ra Nước Trời thực sự đang ở gần chúng ta.
Phan Đức Định sj

SUY NIỆM LỜI CHÚA
CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN
NGÀY 11 THÁNG 11

CHẤP NHẬN RỦI RO, DÂNG HIẾN VẸN TOÀN
Kính thưa cộng đoàn Phụng vụ! Việc dâng cúng, đóng góp xây dựng, bảo trì giáo xứ, nhà thờ là một việc lành thánh. Hơn nữa, đây cũng là nghĩa vụ và một trong 5 điều răn Hội Thánh khuyến khích chúng ta trung thành thực hiện. Tuy nhiên, trong thực tế, chúng ta thường có xu hướng nghĩ đến hai thái cực: một là đóng góp theo số lượng vì nghĩa vụ mà chẳng thiết tha (không có lòng); hai là chỉ có lòng mà không đóng góp, mặc dù có khả năng!!!
Thật ra, Lời Chúa hôm nay không nhắm tới hai chiều hướng trên, mà vượt lên đòi hỏi chúng ta biết hy sinh, sẻ chia những gì dù quý giá nhất, chia san thậm chí khi phải chấp nhận rủi ro đến cuộc sống của mình.
Điều này thể hiện rõ nét qua một điểm chung mà chúng ta có thể thấy ở hai bà goá trong bài đọc I và Phúc Âm hôm nay là: dám chấp nhận rủi ro, kể cả mạng sống mình mà hy sinh, chia san, dâng cúng như sách các Vua trình bày “Có Đức Chúa, Thiên Chúa hằng sống của ông, tôi thề là tôi không có sẵn bánh, tôi chỉ còn một nắm bột trong hũ với một ít dầu trong bình. Này đây tôi lượm vài que củi về nấu cho tôi và con trai tôi ăn, rồi chết thôi” (1V 17, 12) và Tin Mừng theo Thánh Mác-cô viết “…còn bà này đang túng thiếu, đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống mình” (x. Mc 12, 44). Nhìn vào gương của họ, chúng ta có dám can đảm và sẵn sàng thực hiện như họ không? Chúng ta dám chấp nhận rủi ro để trao ban với tất cả tấm lòng tín thác, yêu thương không? Theo lẽ thường, con người chúng ta sợ ảnh hưởng đến cuộc sống bản thân, sợ rủi ro, sợ sự đánh đổi, sợ thách đố, sợ sự bất an, sợ điều bất ổn,v.v…Mặc khác, chúng ta dễ dàng cho đi, san sẻ khi chúng ta chẳng còn vướng bận gì trên trần gian này! Chúng ta có thể rất vui khi hiến tặng đất đai, gia sản, của cải cho giáo xứ, cho hội dòng, cho Giáo hội một khi chúng ta không còn người thân để lo hoặc lúc chúng ta ‘gần đất xa trời’! Tuy nhiên, đây cũng không phải là lí do mà bà goá thành Sa-rép-ta đã làm cho người của Thiên Chúa – tiên tri Ê-li-ah và bà goá nghèo dám dâng cúng hết tất cả những gì bà có để nuôi sống bản thân.
Bây giờ, chúng ta cùng nhau thử tìm hiểu động lực nào khiến bà goá thành Sa-rép-ta gan dạ chấp nhận rủi ro có thể đánh đổi cả cuộc sống của bà và con trai bà? Hơn nữa, chúng ta cũng nên thử hỏi chính bản thân mình: điều gì khiến bà goá nghèo trong trình thuật Tin Mừng theo Thánh Mác-cô hôm nay dám hy sinh tất cả những gì bà có để dâng cúng vào đền thờ với cả lòng quảng đại?
Trước tiên, theo sách các Vua, chúng ta có thể nhận ra niềm tin tưởng vào lời của tiên tri Ê-li-ah của bà goá thành Sa-rép-ta “Bà đừng lo, cứ đi và làm như bà đã nói. Nhưng, với chút bột ấy trước hết hãy làm cho tôi một cái bánh nhỏ, đem ra đây cho tôi, sau đó hãy làm cho bà và con trai bà. Vì Chúa là Thiên Chúa Is-ra-el truyền rằng: ‘Hũ bột sẽ không vơi và bình dầu sẽ chẳng cạn cho đến ngày Chúa cho mưa xuống trên mặt đất’” (1V 17, 13-14). Bà vốn là một ‘người dân ngoại’ (không phải là người Do thái, không phải là dân Thiên Chúa), nhưng bà đã đặt hết lòng tin, niềm xác tín vào lời của một người Do thái, hơn nữa, người của Thiên Chúa – tiên tri Ê-li-ah. Và từ niềm tin tưởng ấy, bà dám chấp nhận kể cả rủi ro ‘ăn chiếc bánh nhỏ rồi chết’ (x. 1V 17, 12). Nếu sách các Vua dừng lại ở đây, thì có lẽ tiên tri Ê-li-ah không thể tiếp tục cuộc hành trình lữ thứ (nếu chúng ta đọc tiếp theo câu chuyện về tiên tri Ê-li-ah)! Nhưng không, niềm tin tưởng tuyệt đối của bà đã khiến bà đánh đổi cả mạng sống mình mà thực hiện như lời tiên tri Ê-li-ah “Bà đi làm theo lời ông Ê-li-ah; chính ông và bà cùng cả nhà đều đủ ăn; từ ngày đó hũ bột không vơi và bình dầu chẳng cạn đúng như lời Chúa đã dùng Ê-li-ah mà phán” (1V 17, 15-16). Còn chúng ta là những người Công giáo, chẳng phải là ‘dân ngoại’ mà là con cái của Thiên Chúa, chúng ta có dám thực hiện như vậy nếu đặt mình vào hoàn cảnh khó nguy của bà goá ấy chăng? Nhất là trong thời đại thực dụng hiện nay, giá trị của mọi thứ đều quy đổi thành của cải, vật chất và ‘bị’ đánh giá dựa trên đó! Nếu như thế, chúng ta khó lòng đặt niềm tin tưởng vào ‘người của Thiên Chúa’, ‘thừa tác viên của Thiên Chúa’; và điều kéo theo, chúng ta chẳng thể nào dám chấp nhận rủi ro, chấp nhận đánh đổi để thực hiện điều Thiên Chúa kêu mời qua ‘các tiên tri Ê-li-ah thời đại ngày nay’!
Tương tự, bà goá nghèo trong đoạn Tin Mừng hôm nay không những có lòng quảng đại tuyệt vời, mà còn dám hy sinh ‘bỏ tất cả những gì mình có’ mặc dù ‘bà đang túng thiếu’. Cuộc đời của bà có thể chấm dứt nếu bà dâng cúng hết những gì bà có! Nhưng chính vì điều này, mà bà được Chúa Giê-su hết lòng cảm kích, khen ngợi, và lấy đó làm tấm gương dạy bảo các môn đệ “Thầy nói thật với các con: Trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà goá nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết. Vì tất cả những người kia bỏ của mình dư thừa, còn bà này đang túng thiếu, đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống mình” (x. Mc 12, 43-44). Có lẽ đối với chúng ta, ‘hai đồng tiền’ (nghĩa là một phần tư xu, tiền Do thái thời ấy) chẳng thấm thoát vào đâu, nhưng điều mà Chúa Giê-su chỉ ra và nhìn thấy được ‘đó là tất cả cuộc sống của bà, đó là tất cả những gì bà ấy có để nuôi sống bản thân’. Bà đang trong tình trạng cùng cực, thiếu thốn nhưng dám chấp nhận rủi ro, quảng đại dâng cúng, chia sẻ tất cả những gì quý giá nhất của mình. Và điều này được biểu lộ rõ rệt qua hình ảnh vị Thượng tế tối cao Đức Giê-su Ki-tô đã đánh đổi tất cả, ‘biến mình ra không’ (tự huỷ mình – kenosis), mặc lấy thân xác yếu hèn của con người, trở nên một với chúng ta, chịu chết (hiến tế một lần) để cứu chuộc chúng ta (huỷ diệt tội lỗi) (x. Dt 7, 26)
Lạy Chúa, xin cho lòng chúng con thêm quảng đại, cho đôi mắt tâm hồn, tâm trí chúng con được mở rộng để cùng ánh nhìn của Chúa, biết chấp nhận rủi ro mà dám dâng hiến vẹn toàn. Amen!
Lm. Xuân Hy Vọng

SUY NIỆM LỜI CHÚA
CHÚA NHẬT XXXIII THƯỜNG NIÊN
NGÀY 18 THÁNG 11

Ngày Cánh Chung
Những ngày cuối của năm phụng vụ giáo hội mời gọi chúng ta suy niệm về ngày cánh chung – ngày phán xét chung cuộc của cả nhân loại. Các bài đọc ngày hôm nay hướng chúng ta về chủ đề này khi năm phụng vụ sắp khép lại. Thế nhưng chúng ta phải hiểu ngày cánh chung như thế nào?
Trước hết, bài đọc một hôm nay cho chúng ta thấy được tính chất của ngày cánh chung đó là ngày “người dân sẽ được cứu”. Ngày cánh chung thường được chúng ta hiểu như một ngày luận tội. Tin Mừng theo thánh Mat-thêu chương 25 vẽ ra cảnh tượng ngày cánh chung như là ngày phán xét. Khi ấy Chúa sẽ tách biệt người ta như tách biệt chiên với dê. Những người sống biết sẻ chia, giúp đỡ người khác được ví như những chú chiên ngoan nên sẽ được hưởng phần thưởng trong nước Chúa. Những người được ví với dê là những người đã không biết mở rộng tấm lòng trước đồng loại nên cũng bị loại ra khỏi hạnh phúc đời đời. Có lẽ phần đông người Ki-tô hữu chúng ta thường nghĩ về ngày cánh chung như thánh Mat-thêu miêu tả. Điều này không sai nhưng đôi khi nó làm cho người ta có cảm giác lo sợ trước sự công bình của Thiên Chúa. Bài đọc một mà giáo hội mời chúng ta nghe hôm nay nhắc cho chúng ta rằng ngày cánh chung trước hết là ngày cứu độ, ngày của sự giả thoát. Tổng lãnh thiên thần Micae – Đấng là sức mạnh của Thiên Chúa sẽ đứng lên chống lại thế lực của sự dữ và mang đến cho nhân loại sự cứu rỗi đích thực. Cho nên khi nhắc đế ngày cánh chung, thái độ chúng ta cần có chính là niềm hy vọng. Chúng ta hy vọng vào ơn cứu độ mà Thiên Chúa đã hứa với chúng ta. Chính Đức Ki-tô Đấng là Tư Tế Tối Cao sẽ là thủ lãnh của chúng ta trong ngày cánh chung này khi Thiên Chúa đặt mọi thế lực thù địch dưới chân Ngài như lời Chúa trong thư gửi Do Thái mà chúng ta đọc hôm nay. Vị Tư Tế Tối Cao Giêsu đã hiến cả mạng sống mình cho chúng ta thì chúng ta còn phải sợ điều gì!
Bài Tin Mừng cũng cho ta thấy viễn tượng về ngày cánh chung khi đề cập đến việc Thiên Chúa sẽ quy tụ những người đã được tuyển chọn từ bốn phương trời. Nước Thiên Chúa là nước phổ quát. Nước này dành cho tất cả mọi người. Tất cả những ai mở lòng ra đón nhận Nước Thiên Chúa đều có quyền hy vọng được Ngài dành cho một chỗ trong Nước của Ngài. Bài Tin Mừng còn cho ta thấy có một sự biến động lớn trong ngày cánh chung. Tất cả những gian khổ, những thay đổi của đất trời sẽ xảy ra trước ngày Con Người ngự đến. Sẽ có những dấu chỉ trước khi ngày cánh chung xảy ra. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ lời Chúa Giêsu nói về ngày cánh chung đó là không ai được biết ngày và giờ đó vì chỉ có mình Chúa Cha biết mà thôi. Những năm gần đây, có nhiều nhóm tự phát xưng là biết được ngày tận thế. Nhiều nhóm kêu gọi ăn năn sám hối vì ngày tận thế đã gần kề và loan báo thời gian cụ thể của ngày cánh chung. Có lẽ những người này đã không nhớ lời Chúa Giêsu khẳng định trong bài Tin Mừng hôm nay. Họ đã đi quá xa khi khẳng định rằng mình biết được thời gian cụ thể cho biến cố quan trọng này.
Là người Ki-tô hữu, chúng ta tin và chờ đợi ngày cánh chung để được diện kiến Thiên Chúa. Tuy nhiên, thái độ chúng ta cần phải có là thái độ tin tưởng, phó thác cho tình yêu và lòng nhân hậu của Chúa. Chúng ta không cần phải quá lo lắng về những gì sẽ xảy ra hay ngày nào sẽ là ngày cánh chung. Chúng ta được mời gọi để trao mọi sự vào tay Chúa. Tin theo Chúa chúng ta được mời gọi sống trọn vẹn từng ngày mà Chúa ban cho chúng ta. Nếu chúng ta sống trọn vẹn từng ngày trong ân nghĩa Chúa thì dù ngày cánh chung có là hôm nay hay ngày mai cũng không làm chúng ta khiếp sợ. Ước chi chúng ta có thể nói với Chúa như thánh Pio: “quá khứ của con, lạy Chúa, con phó thác cho Lòng Thương xót của Chúa; hiện tại của con, con phó thác cho Tình Yêu của Chúa và tương lai của con cho sự Quan Phòng của Chúa”.
Giuse Nguyễn Thanh Nhã SJ

SUY NIỆM LỜI CHÚA
CHÚA NHẬT LỄ CHÚA TÔ VUA
NGÀY 25 THÁNG 11

Hôm nay là Chúa nhật cuối cùng của năm phụng vụ. Lời Chúa cho chúng ta thấy lúc tận cùng của thời gian, Chúa Giêsu sẽ làm Vua ngự trị trên toàn thể mọi sự và mọi người. Và hôm nay, Chúa vẫn đang làm Vua trong lòng của những người tin, cậy và yêu mến Ngài.
Bài đọc I: Trong thị kiến của đoạn này, Đanien thấy Đấng Lão Thành (tức là Thiên Chúa) trao cho Con Người quyền thống trị tất cả loài người. Nhân vật Con Người ấy chính là hình ảnh tiên báo Đấng Messia. Và Đức Giêsu chính là Đấng Messia hoàn thành lời tiên tri ấy.
Bài đọc II: Đoạn sách Khải Huyền nầy cũng mô tả Đức Giêsu là Vua:
-Vì yêu thương chúng ta, Ngài đã lấy máu mình rửa sạch mọi tội lỗi chúng ta;
-Sau khi chịu nạn chịu chết, Ngài được tôn lên làm Vua mọi loài;
-Ngài làm cho chúng ta trở thành vương quốc của Ngài.
Tin Mừng:
Đây là cuộc trao đổi đầu tiên giữa Đức Giêsu và Philatô. Philatô đặt câu hỏi: “ông có phải là vua dân Do thái không?” (c.33). Thay vì trả lời, Đức Giêsu đặt ra cho Philatô câu hỏi: “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?” (c.34). Qua câu hỏi nầy, Đức Giêsu muốn xác minh lời nói của Philatô:
-Nếu tự mình Philatô đặt ra câu hỏi đó, thì tước hiệu “Vua” phải mang ý nghĩa chính trị.
-Còn nếu “do những người khác nói”, tức người Do thái nói, thì tước hiệu “Vua” mang ý nghĩa tôn giáo.
Trước câu hỏi của Đức Giêsu, Philatô bực tức, ông khẳng định lời ông hỏi mang ý nghĩa chính trị, và ông đi sâu hơn khi hỏi thêm: “ông đã làm gì?” (c.35). Đức Giêsu cho Philatô biết Ngài có một nước, nhưng nước của Ngài không thuộc thế gian này, nên nước ấy không mang sắc thái chính trị như Philatô nghĩ tưởng. Tiếp theo, Đức Giêsu giải thích cho Philatô hiểu rõ ý nghĩa tước hiệu “Vua” của Ngài. Đức Giêsu làm vua để làm chứng cho sự thật, nghĩa là mặc khải cho thế gian nhận biết về sự thật, mà sự thật ấy chính Ngài (x.14,6). Do đó, ai tin vào Ngài, nghe lời Ngài, thì Ngài thực sự là Vua đối với họ như là mục tử đối với đoàn chiên (x.10,3).
Vì thế, mỗi người chúng ta, hãy cố gắng xứng đáng là một Kitô hữu, nghĩa là biết sống đúng tính người, sống theo lương tâm, sống hòa thuận, yêu thương, làm việc lành theo lời dạy của Tin Mừng. Và hãy cố gắng mở mang Nước Chúa, bằng cách, làm cho nhiều người khác cũng biết sống hòa thuận, yêu thương, sống theo lương tâm và làm việc lành. Đồng thời, chúng ta cũng luôn biết điều chỉnh cuộc sống hiện tại của mình cho phù hợp với viễn cảnh cuối cùng.
Hôm nay là Chúa nhật cuối cùng của năm phụng vụ. Giáo hội đặt lễ Chúa Kitô Vua vào Chúa nhật cuối cùng nầy, cũng có ý nghĩa, đó là: Ước nguyện sao cho cuối cùng tất cả mọi người đều ở trong Nước Chúa, một nước chỉ có hòa thuận yêu thương, một nước bình an và hạnh phúc.
**Gợi ý suy nghĩ:
Chúa nhật cuối cùng của năm phụng vụ giúp chúng ta thấy một số chân lý sau đây:
1-Đến lúc tận cùng của thời gian, hoặc ngày chết của mỗi người, thì chúng ta sẽ thấy tiền bạc, danh vọng, thế lực, thú vui…tất cả đều không còn ý nghĩa và tầm quan trọng gì đối với chúng ta nữa. Đúng như lời của một thi sĩ mô tả: “Lạy Chúa Giêsu, khi cái chết đến thì ngoài Ngài ra không còn gì là quan trọng nữa”. Chúng ta có cảm nhận như vậy không? Và sẽ làm gì??
2- Nếu chỉ có Chúa là quan trọng, thì những ai gắn bó và nương tựa vào Chúa trong cuộc sống mới thấy yên lòng. Còn những người tìm kiếm, chạy theo và nương tựa vào tiền bạc, quyền lực, thú vui….sẽ thấy chơi vơi, cô đơn, trơ trụi. Khi đó tất cả mọi người, dù tin hay không tin; dù tốt hay xấu, mọi người đều mở mắt và nhận thức được sự việc. Trong cuộc sống, chúng ta đã tìm kiếm và nương tựa vào ai???
3- Chúa Giêsu không chỉ là vua vũ trụ, mà Ngài còn là vua của tâm hồn mỗi người. Vì thế chúng ta phải thường xuyên ý thức về sự hiện diện của Ngài trong ta và yêu thương ta bằng một tình yêu không thay đổi.
4- Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, hãy luôn sống trong bình an, hạnh phúc của một người được Chúa Giêsu yêu thương. Nắm được điều đó, ta sẽ thấy có Đức Kitô ngự trong tâm hồn mình là một sự bình an và hạnh phúc. Vì Ngài là Vua Tình Yêu, Vua Bình An, Vua Phục Vụ….
Xin Chúa luôn làm Vua ngự trong lòng chúng con, để qua những thử thách, thăng trầm trong cuộc sống, chúng con luôn tin tưởng, cậy trông, vì được Chúa hướng dẫn và đồng hành. Amen.
Gabriel Dương Văn Quốc Tiến