Suy Niệm Lời Chúa-みことばの食卓

CHÚA NHẬT LỄ CHÚA HIỂN LINH
NGÀY 06 THÁNG 01

Ơn Cứu Độ và Hành Trình Đức Tin
Hằng năm sau dịp Lễ Chúa Giáng Sinh, Giáo hội mời gọi mỗi người chúng ta suy nghĩ về tính phổ quát của ơn Cứu độ và hành trình đức tin của mình ngang qua Phụng Vụ Chúa Nhật Chúa Hiển Linh.
Trước hết, mặc dù ơn Cứu độ của Chúa được xuất phát từ một dân tộc được chọn, nhưng khi Chúa Giê-su được sinh ra và khi Người tỏ mình cho ba vị đạo sĩ đến từ Phương Đông xa xôi, Chúa muốn chúng ta nhận ra rằng: ơn Cứu độ mà Chúa Giê-su mang lại không bị gò bó nơi bất cứ vùng miền hay hội nhóm nào. Đúng hơn ơn Cứu độ đó có tính phổ quát và được ban cho bất kỳ ai có thiện tâm khao khát đi tìm Chân Lý. Ơn Cứu độ đó chính là gặp gỡ Con Thiên Chúa làm người và nhận Ngài là Vua, là cứu cánh của đời mình.
Kể từ sau Thánh Công Đồng Vaticano II, Giáo hội không còn khẳng định “ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ”, nghĩa là những người ngoài cơ cấu hữu hình của Giáo hội sẽ không được cứu rỗi. Giáo hội đã đi một bước tiến xa khi nhìn nhận rằng bất cứ ai “thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa, và dưới tác động của ân sủng, họ cố gắng hành động để chu toàn thánh ý Thiên Chúa được biểu bộ qua sự hướng dẫn của lương tâm, thì vẫn có thể đạt được ơn cứu độ vĩnh cửu” (Hiến Chế Tín Lý Về Giáo Hội – LG – số 16). Đây chính là điểm nhấn của sự hiệp nhất đại kết. Trong bối cảnh đối thoại liên tôn cũng như trong bối cảnh ngày càng nhiều các gia đình đa tôn giáo, chúng ta được mời gọi để ý thức rằng Thiên Chúa là Cha yêu thương, luôn luôn có ước muốn cứu độ tất cả mọi người, không loại trừ bất kỳ tạo vật nào. Chúa Giê-su là hiện thân của Thiên Chúa làm người ở giữa nhân loại. Người đã vâng phục cho đến chết treo trên thập giá để thực hiện ý định cứu độ của Thiên Chúa.
Mặc dù có nhiều người (theo thể chế pháp lý) vẫn chưa thuộc về Giáo hội mà Chúa Giê-su thiết lập, nhưng khi bước theo ánh sáng của một lương tâm ngay thẳng, họ thuộc về Dân Thiên Chúa, thuộc về Giáo hội cách nào đó xét trên phương diện Giáo hội là Nhiệm Thể của Chúa Ki-tô. Mặc dù họ được ơn cứu độ theo ý muốn nhiệm mầu của Thiên Chúa nhưng họ vẫn được mời gọi để gặp gỡ chính Đấng Thiên Chúa làm người. Nhờ đó, đời sống của họ sẽ được đổi mới như ba vị đạo sĩ đã đi đường khác mà về sau khi gặp được Hài Nhi Giê-su.
Đi tìm Chân Lý và sống theo Sự Thật là một hành trình đức tin đầy gian lao thử thách. Khởi đầu cho hành trình đức tin là nhận ra “ánh sao lạ” trong cuộc sống tự nhiên, tượng trưng cho ơn thánh xuất phát từ Thiên Chúa. Khi họ tiếp nhận ánh sao ấy thì nó trở nên ánh sáng chỉ đường cho họ. Tuy nhiên trên hành trình ấy, “ánh sao lạ” đã đôi lần biến mất, khiến đời sống của chúng ta chao đảo mất phương hướng. Khi ấy, sự kiên nhẫn và đối thoại là phương cách giúp chúng ta tìm thấy lại được ánh sáng đã mất.
Không ít lần chúng ta tự hỏi Thiên Chúa đang ở đâu, sự bình an của Chúa đang ở nơi nào khi mà cuộc sống này có quá nhiều đau khổ lầm than. Thế nhưng chúng ta có bao giờ tự hỏi chúng ta có thiện tâm tìm kiếm Chúa không (Bình an dưới thế cho người thiện tâm), có thiện tâm đối với những những người xung quanh không, có kiên nhẫn và có thiện tâm đối thoại không. Những thử thách trong hành trình đức tin không phải là dấu hiệu Thiên Chúa bỏ rơi con người, mà là những cơ hội để con người nghiệm sâu hơn về đức tin, về Chân lý và Sự thật. Đức tin không thử thách là đức tin dễ dàng; đức tin thất bại trước thử thách là đức tin dễ dãi; đức tin chấp nhận thử thách mới là đức tin đích thực dẫu cho nhiều khi chẳng dễ chịu chút nào.
Lễ Chúa Hiển Linh còn có một tên gọi khác là Lễ Ba Vua. Ba ông lên đường, bỏ lại sau lưng cuộc sống cũ để cùng nhau tìm kiếm một vị VUA mới sinh. Hình ảnh của ba người này gợi nhắc chúng ta rằng hành trình đức tin của chúng ta không bao giờ được thực hiện cách cá nhân riêng lẻ. Đúng hơn, đức tin được sống trong sự liên đới và đồng hành. Thực tế trong hành trình đức tin của mình, chúng ta cần có những người bạn đồng hành để chia sẻ và giúp nhau vượt qua những thử thách của cuộc sống.
Có nhiều khi chúng ta cảm thấy rằng mình chẳng thích các giáo điều này hay những luật lệ kia, nhưng dễ dàng bị chinh phục bởi gương sáng đức tin của một thánh nhân nào đó. Trong xã hội hiện nay vẫn còn có nhiều gương sáng về đức tin. Ước mong ơn Cứu độ phổ phát của Thiên Chúa được trở nên dấu chỉ hữu hình nơi cuộc sống đức tin của mỗi người ki-tô hữu chúng ta.
Linh Mục Phan Đức Định

……………………………………………
1. “Vua người Do Thái mới sinh ra hiện đang ở đâu?”. Chúng ta cầu xin cho các vị Mục Tử trong Hội Thánh luôn là ánh sáng chỉ đường cho nhiều người đến với Chúa, nhờ cuộc sống chiêm niệm, thanh thoát và hân hoan phục vụ cộng đoàn. Chúng con cầu xin Chúa
ĐÁP : XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON
2. “Chúa đã cho ánh sao dẫn đường để các Hiền Sĩ đến gặp Chúa”. chúng ta cầu xin Chúa cho mọi dân mọi nước, cũng biết nhận ra các dấu chỉ của thời đại và khao khát tìm kiếm Chúa để được gặp Chúa là nguồn hoan lạc, bình an và hạnh phúc vĩnh cửu. Chúng con cầu xin Chúa
3. “Chúa đã tỏ mình ra cho dân ngoại”. Chúng ta cầu xin cho các nhà lãnh đạo các quốc gia, luôn quan tâm đến việc xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, đề cao công bình, bác ái, không phân biệt tôn giáo, sắc tộc và giai cấp. Chúng con cầu xin Chúa
4. ……..( Cộng đoàn tự soạn theo ý lễ trong ngày )

…………………………………………………………………..

LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA
Ngày 13 tháng 01

Dấu vết đầu tiên về “phép rửa” được tìm thấy trong Cựu Ước là nơi Sách Xuất Hành 30,17-21 khi Yahweh truyền cho Moses phải xây một cái bồn bằng đồng cha Aaron và con cháu tư tế của ông rửa tay và chân trước khi bước vào Lều Tạm nơi để Hòm Bia Giao Ước.
Tiếp theo, Sách Lêvi dành nhiều thời gian để chỉ dẫn con cái Israel phải ‘tẩy rửa’ mình như thế nào mỗi khi họ bị vướng điều chi gây ô uế như chạm vào xác chết hay người phong hủi chẳng hạn. Sau này, khi thỉnh thoảng có người “lương dân công chính” (righteous gentiles) ngỏ ý muốn theo đạo Do thái, hàng tư tế mới làm phép rửa trên họ kèm theo nghi thức cắt bì!
Khi Gioan Tẩy giả xuất hiện, ông coi Phép rửa là tác vụ trung tâm đi liền với sứ điệp của mình về lòng Sám Hối cho dân Israel. Điều khác biệt là với Gioan – phép rửa phải đi vào nội tâm con người với lòng sám hối về những tội lỗi bất xứng của cá nhân, chứ không chỉ vì lề luật ‘sạch dơ liên quan tới việc tế tự’ (ritual purity) Không phải người ngoại muốn thành Do thái mới cần “rửa”, mà chính người Do thái phải “rửa” và “sinh hoa quả xứng với lòng sám hối” (Mt 3,8)
Gioan cũng nói đến Đức Giêsu như là “Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi” và “Người sẽ làm Phép rửa cho anh em trong Thần Khí”, nhưng khi Chúa Giêsu xuất hiện, chính Người cũng bước xuống nước cho Gioan làm phép rửa. Là Đấng không tội lỗi, Người không cần đến phép rửa, nhưng Người tự nguyện nhận lấy trong tình liên đới, trong sự đảm nhiệm trọn vẹn thân phận của con người.
Trong cuộc đời hoạt động công khai của Chúa, ta không thấy Phúc âm ghi lại Chúa làm phép rửa cho dân chúng, tuy Người chữa lành và công bố ơn tha tội cho rất nhiều người. Nhưng trước khi về Trời, Người sẽ truyền cho các tông đồ “Hãy đi khắp tứ phuơng loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo. Ai tin và chịu Phép rửa, sẽ được cứu rỗi” (Mc 16,15-16) Từ đó, Phép Rửa, như Chúa thiết lập, trở thành Dấu chỉ của việc trở thành Kitô hữu.
Bí Tích Thánh Tẩy (phép rửa) Kitô giáo, vẫn bao hàm ý nghĩa Sám hối và ‘rửa sạch’ nhưng hơn thế nữa, nó nói lên sự tháp nhập từ giờ phút ấy của người thụ tẩy vào mầu nhiệm Tử nạn, Chịu chôn cất và Phục sinh của Chúa Kitô – để trở nên ‘Tạo vật mới’, ‘một chi thể trong Thân Thể mầu nhiệm của Người.
Khi Chúa Giêsu chịu phép rửa, “tầng trời mở ra, và Thần Khí tựa như chim bồ câu ngự xuống trên Người” kèm theo tiếng từ trời phán “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về con.” Chúa cũng nói với chúng ta như vậy, khi chúng ta chịu phép rửa ‘nhân danh Cha, và Con, và Thánh thần’
Câu hỏi còn lại cho chúng ta, mỗi người tín hữu, là chúng ta có biết sống thế nào cho Chúa được ‘hài lòng’ mãi về mình hay không?
Linh Mục Gioan Đàm Xuân Lộ

………………………………………………………………………..

1. “Đức Giêsu đã tự hạ đến xin ông Gioan làm phép rửa, hầu chỉ lối khiêm nhường cho tín hữu học đòi bắt chước”. Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các vị mục tử biết noi gương Chúa Giêsu mà phục vụ tha nhân trong tình yêu và khiêm nhường. Chúng con cầu xin Chúa
ĐÁP : XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON
2. “Người sẽ rửa anh em trong Thánh Thần và trong Lửa”. Xin cho các Kitô hữu luôn ý thức phẩm giá cao cả của Bí Tích Rửa Tội biết sống theo sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần để ngày càng trở nên con thảo của Chúa và nên anh em với nhau. Chúng con cầu xin Chúa
3. “Chúa phán : Con là Con yêu dấu của Cha, Con đẹp lòng Cha”. Xin cho các bạn trẻ ngày hôn nay luôn nỗ lực trở nên con yêu dấu của Thiên Chúa bằng cách nên giống Chúa Giêsu để cuộc sống chứa chan niềm vui và hy vọng. Chúng con cầu xin Chúa
4. …….. (Cộng đoàn tự soạn theo ý lễ trong ngày )

………………………………………………………………..

CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN
Ngày 20 tháng 01

Phép lạ đầu tiên của Chúa Giêsu
Thánh Gioan kể chuyện một tiệc cưới ở Cana. Chúa Giêsu và Mẹ Maria cùng được mời. Có lẽ đây là tiệc cưới của một người thân trong dòng tộc. Các môn đệ của Chúa Giêsu cũng được tới chung vui cùng. Vào thời Chúa Giêsu, tiệc cưới của người Do Thái thường kéo dài trong bảy ngày đôi khi hơn thế . Người ta tổ chức ăn uống linh đình để chúc mừng cho gia đình mới. Những dịp như thế này, ngoài thức ăn ra thì rượu là thứ không thể thiếu được. Thật chẳng may, đám cưới này lại hết rượu. Thánh Gioan không nói cho chúng ta biết lý do tại sao họ hết rượu. Thánh nhân chỉ tường thuật lại thật ngắn gọn việc gia chủ hết rượu qua lời Đức Mẹ nói với Chúa Giêsu: “họ hết rượu rồi!” Chúng ta không biết tại sao Đức Mẹ lại nhận ra điều đó. Cũng vậy, chắc có rất nhiều người ngạc nhiên trước thái độ của Chúa Giêsu đối với Mẹ Maria: “Thưa bà, chuyện đó có liên quan gì đến bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến.” Chúng ta cũng không biết nguyên văn chính xác lời đối đáp này, chỉ một điều chắc chắn rằng phép lạ đã xảy ra. Từ câu chuyện phép lạ này chúng ta có thể học được những bài học sau.
Có thể nói phép lạ đầu tay của Chúa Giêsu có sự can thiệp trực tiếp từ Đức Mẹ. Đức Maria với sự tinh tế của mình đã nhận ra gia chủ đang rơi vào tình thế khó xử. Chúng ta học được ở Mẹ thái độ quan tâm dành cho người khác. Sự quan tâm này không phải là lúc nào cũng chúi mũi vào việc của người khác. Đúng hơn đó là một sự quan tâm nhẹ nhàng đủ để biết người khác cần gì và mình có thể giúp được gì. Mẹ không la toáng lên cho mọi người mà là tìm cách giúp một cách âm thầm. Ta có thể tưởng tượng được Mẹ đến thì thầm vào tai Chúa Giêsu: họ hết rượu rồi con ơi! Mẹ cũng không lên lớp dạy bảo Chúa phải làm phép lạ để giúp gia chủ. Mẹ chỉ nhẹ nhàng cho con của mình hay hiện trạng với niềm tin rằng con của mình có thể làm gì đó trong lúc này để cứu lấy danh dự của gia chủ.
Kế đến chúng ta học được từ Mẹ thái độ tin tưởng vào Chúa Giêsu. Thái độ khó hiểu của Chúa Giêsu có thể là một lời nhắc nhở Mẹ rằng: Chúa Giêsu cũng biết việc họ hết rượu nhưng Ngài còn phải tìm xem ý Chúa Cha như thế nào. “Giờ của tôi chưa đến!” Kế hoạch cứu độ luôn được diễn ra trong một thời gian và không gian mà Thiên Chúa đã ấn định. Câu trả lời của Chúa Giêsu dành cho Mẹ Maria có thể hiểu là một sự xác tín giữa hai mẹ con rằng việc này cũng nằm trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa nên phải chờ cho đến giờ của Ngài. Mẹ đã tin Chúa Giêsu dù cho Ngài không hứa hẹn sẽ làm gì đó giúp cho gia chủ tiệc cưới. Phép lạ đã xảy ra và hiệu quả của phép lạ không chỉ là người ta tiếp tục vui vẻ ăn uống mà là “các môn đệ đã tin vào Chúa Giêsu”. Qua phép lạ này công cuộc cứu chuộc thế giới được bắt đầu bởi ngang qua việc cộng tác của các môn đệ.
Tiệc cưới Cana có lẽ đã kết thúc thật vui vẻ. Chắc chắn Chúa đã chúc lành cho gia đình mới. Điều cuối cùng mà chúng ta học được nơi câu chuyện này có lẽ là cách chúng ta hiểu về phép lạ. Một điều rất dễ thấy là đa số chúng ta mong muốn phép lạ. Khi cuộc đời không có lối thoát chúng ta cầu mong một phép lạ xảy ra để đổi đời. Chúng ta xin phép lạ để khỏi bệnh, thoát nghèo, qua khổ, phép lạ để có con cái,…Những điều này có thể nói là một phần thuộc về đời sống thiêng liêng của chúng ta. Tuy nhiên, cần nhớ rằng các phép lạ không phải là điều quan trọng nhất trong đời sống đức tin. Có lẽ nên nói rõ hơn nó chỉ là thứ phụ mà thôi. Điều quan trọng trong đời sống của chúng ta chính là niềm tin vào Chúa Giêsu. Thiên Chúa ban cho chúng ta Con của Ngài là Chúa Giêsu. Tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta không phải ngang qua những phép lạ ngoại thường mà qua cuộc sống, cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu. Nói chính xác hơn chính cuộc sống, cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu là phép lạ lớn nhất mà Thiên Chuá đã làm cho chúng ta. Dĩ nhiên, không ai ngăn cản chúng ta cầu xin phép lạ và nếu Chúa ban cho chúng ta điều chúng ta xin thì thật là tuyệt vời. Tuy nhiên, nếu chúng ta chỉ dựa vào phép lạ để tin Chúa thì niềm tin của chúng ta đã đi xa rời cái cốt lõi của đạo. Ngày nay người ta đổ xô đi tìm phép lạ và buồn thay ngay chính những người Ki-tô hữu lại là những người cuồng nhiệt nhất trong việc này. Người ta đổ xô về các trung tâm hành hương để cầu xin phép lạ và xem đó như là việc quan trọng nhất của đời sống đức tin. Nhiều giáo dân và không ít các linh mục đã quên rằng khi những người thời Chúa Giêsu đến xin Ngài phép lạ Ngài đã chỉ cho họ phép lạ lớn nhất chính là việc ông Giôna sống trong bụng cá suốt ba ngày. Đó chính là hình ảnh việc Chúa Giêsu sẽ phục sinh sau ba ngày trong mồ . Nếu Đấng Phục Sinh không là trung tâm của đời sống đức tin của chúng ta. Nếu chúng ta tìm một phép lạ nào khác ngoài phép lạ lớn nhất là sự sống đời đời với Ngài thì có lẽ chúng ta đang đi theo một ai đó chứ không phải là Đức Ki-tô.
Giuse Nguyễn Thanh Nhã SJ

……………………………………………….

1. “Ngươi đẹp lòng Thiên Chúa và đất ngươi sẽ có dân cư”. Xin cho các vị chủ chăn có được tình mẫu tử như Đức Maria hằng quan tâm đến đoàn chiên nhất là những chiên đau yếu và lầm lạc để nhờ tình yêu thương săn sóc, đoàn chiên mau chóng hiệp nhất dưới quyền một Chúa chiên . Chúng con cầu xin Chúa
ĐÁP : XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON
2. “Có nhiều chức vụ khác nhau nhưng chỉ có một Chúa”. Xin cho các Kitô hữu ý thức trách nhiệm phải cộng tác vào ơn cứu độ của Chúa để họ biết lắng nghe và thực hành Lời Chúa qua Tin Mừng cũng như giáo huấn của Hội Thánh, hầu trở nên chứng nhân tình yêu cho Thiên Chúa chân thật và duy nhất. Chúng con cầu xin Chúa
3. “Họ hết rượu rồi”. Xin Chúa thương cải biến những đức tin lạnh nhạt thành rượu nồng của niềm tin mến Chúa nơi mọi người, nhờ đó họ sẵn sàng chấp nhận Thiên Chúa là Đấng đem lại hạnh phúc thật và vĩnh cửu cho mình. Chúng con cầu xin Chúa
4. ……..( Cộng đoàn tự soạn theo ý lễ trong ngày )
……………………………………………………………

CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN
Ngày 27 tháng 01

LỜI CHÚA MÃI CÒN ỨNG NGHIỆM
Kính thưa cộng đoàn! Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh của dân Is-ra-el khi được tư tế Ét-ra công bố sách luật của Thiên Chúa, và cũng là dịp thuận lợi cho chúng ta nhìn lại rằng: chúng ta đã đặt để Lời Chúa làm trung tâm điểm của đời sống đức tin, cuộc sống gia đình, đời sống tận hiến, đời sống mục vụ và truyền giáo của mỗi người chúng ta trong từng hoàn cảnh, sứ vụ chưa?
Tin Mừng theo Thánh Lu-ca thuật lại sự kiện Chúa Giê-su trở về Na-da-rét nơi Ngài được sinh trưởng và điều trước tiên Ngài làm giống như bao nhiêu người khác đó là vào hội đường, đọc sách Thánh, tham dự vào sinh hoạt thiêng liêng, cộng đồng. Mặc dù danh tiếng Ngài lan rộng khắp miền chung quanh, nhưng Ngài không quên tham dự đời sống tâm linh với mọi người nơi quê hương của mình. Ở chi tiết này, chúng ta học được nơi Chúa Giê-su nên đặt ưu tiên ở đâu, biết ưu tiên việc gì cho phải lẽ. Đó là đời sống cầu nguyện, đời sống thiêng liêng, đời sống nối kết với Lời của Chúa qua việc học hỏi, chia sẻ, tham dự vào Tiệc Thánh dù ở đâu, nơi xứ sở quê hương hay đất khách quê người, nơi cùng ngôn ngữ hay khác ngôn ngữ, nơi có nét văn hoá tương đồng hay khác lạ, v.v…Tuy nhiên, trên thực tế, mỗi khi người Công giáo chúng ta đi du lịch hay đi thưởng ngoạn, chúng ta đã nhớ cầu nguyện, có ưu tiên việc tham dự Thánh lễ hàng đầu, có chút quan tâm đến đời sống đức tin của mình chăng? Hay đó chỉ là thứ yếu, còn điều không thể quên đó là tìm xem danh lam thắng cảnh, đắm mình vào cuộc vui, thưởng thức đồ ăn thức uống, và tán gẫu vô thời lượng?
Cũng như Chúa Giê-su, dân Is-ra-el, già trẻ lớn bé đều chú tâm lắng nghe thầy tư tế Ét-ra trong bài đọc I công bố sách luật (Lời Chúa), rồi đáp ‘Amen’, cúi mình, phủ phục trước Thiên Chúa (x. Nkm 8, 6). Sau khi được nghe, được giải thích từng đoạn trong sách luật Chúa, mọi người đều đã hiểu điều được đọc. Họ đã đặt Lời Chúa làm kim chỉ nam dẫn lối cho cuộc sống của họ. Hơn nữa, Lời Chúa còn được ứng nghiệm nơi cuộc sống, hoàn cảnh, trong từng trách vụ của mỗi người chúng ta, và còn thúc bách chúng ta ra khỏi ‘nệm ấm gối êm’ của cuộc sống thoải mái, dễ giải, nhằm hướng tới việc làm chứng tá cho Chúa nữa. Lời tiên tri nói về Đấng Cứu Thế nay được ứng nghiệm một cách sống động nơi chính Đấng đã được loan báo từ xa xưa ‘hôm nay ứng nghiệm đoạn Kinh Thánh mà tai các ngươi vừa nghe’ (Lc 4, 21). Lời tiên tri ấy đã thành sự, và đang diễn ra trước mắt chúng ta qua chính Con Một Thiên Chúa – Đấng đã được nói đến và được sai đến – hầu thực hiện kế hoạch yêu thương vô điều kiện của Thiên Chúa Cha, ‘…sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó, thuyên chữa những tâm hồn sám hối, loan truyền sự giải thoát cho kẻ bị giam cầm, cho người mù được trông thấy, trả tự do cho những kẻ bị áp bức, công bố năm hồng ân và ngày khen thưởng’ (Lc 4, 18-19).
Một cách cụ thể hơn, Lời Chúa tiếp tục ảnh hưởng không ngừng trong cách sống, trong lối suy nghĩ, nhìn nhận hay nhận định, đánh giá sự việc, nhãn quan về thế giới hay con người của chúng ta. Không chỉ là nhân tố bên ngoài tác động vào tư tưởng, hành vi, lời nói, việc làm của mỗi chúng ta, mà Lời Chúa còn được biểu lộ và linh nghiệm trên mọi nẻo đường cuộc đời, qua mọi sự kiện kể cả sự cố, qua đời sống gia đình, đời sống tận hiến – phục vụ – truyền giáo của chúng ta, vì chính Lời – Con Thiên Chúa Hằng Sống, Đấng Phục Sinh – đang hiện diện, đồng hành và nâng đỡ chúng ta. Chính vì thế, tuy chúng ta được Chúa tạo dựng ‘độc nhất vô nhị’, khác nhau, nhưng mỗi người đều là chi thể, hay bộ phận nhỏ bé của thân xác Chúa Ki-tô (Thân xác Mầu nhiệm hay Nhiệm Thể). Chẳng phải vì khác nhau mà chúng ta tự cho mình quyền tự trị, phân rẽ, chia cắt, mà cũng chẳng phải vì chúng ta tương đồng nên chúng ta có thể hoà hợp, đoàn kết, hiệp nhất với nhau! Nhưng vì mỗi chúng ta đều thuộc về Chúa Ki-tô dù chúng ta chỉ là từng chi thể, từng bộ phận khác nhau. Nhờ Lời – Chúa Ki-tô – gắn kết mỗi cá thể tuy khác nhau nhưng hợp nhất với nhau. Nhờ Lời – Chúa Ki-tô – nối kết mỗi cá nhân dễ rơi vào chủ nghĩa cái tôi (chủ nghĩa cá nhân) nhưng được hiệp nhất với nhau. Nhờ Lời – Chúa Ki-tô – làm cầu nối hàn gắn mọi đố kỵ, giận hờn, ghen ghét, oán thù nơi từng chi thể trở nên một thân thể mà trong đó tình bác ái, yêu thương, tha thứ, bao dung, cảm thông được đặt lên hàng đầu: ‘…anh chị em là thân xác Chúa Kitô và là chi thể của Người…’ (x. 1Cr 12, 27) Phần chúng ta, ước mong chúng ta ngày càng xác tín, ra sức nỗ lực làm theo sức mình và cộng tác hầu lo công ích cho nhau trong gia đình, trong cộng đoàn giáo xứ, trong hội dòng và trong xã hội.
Giờ đây, chúng ta cùng nhau dâng lên Chúa muôn lời cảm mến và hết lòng cầu nguyện:
Lời Chúa – ngọn đèn sáng soi
Nơi cung lòng tối mòn mỏi chờ trông.
Lời Chúa – ánh sáng trinh trong
Soi đường con bước, cậy trông miên trường.
Lời Chúa – nơi con náu nương
Xa lìa ganh ghét, yêu thương một đời.
Lời Chúa ứng nghiệm người ơi
Thực thi bác ái, rạng khơi tâm hồn. Amen.
Lm. Xuân Hy Vọng

……………………………………………………………..

1.”Anh em là thân xác Chúa Kitô và là chi thể Người”. Xin cho các Kitô hữu được Lời Chúa luôn chiếu soi để giữa cuộc sống với bao vất vả, khổ nhọc, họ vẫn được Đức Kitô nâng đỡ hồn xác vì thuộc về Người. Chúng con cầu xin Chúa
ĐÁP : XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON
2. “Người giảng dạy trong các hội đường”. Xin cho những tâm hồn mê muội, chai lỳ trong tội biết thay đổi cảm quan để mở rộng lòng đón nhận sứ điệp cứu độ hầu họ được giải thoát và bình an. Chúng con cầu xin Chúa
3. “Người đến Nazaret nơi Người sinh trưởng”. Xin cho mỗi người trong cộng đoàn chúng ta biết rao truyền tin vui cứu độ ngay trong giáo xứ của mình bằng việc tích cực xây dựng cộng đoàn yêu thương hiệp nhất. Chúng con cầu xin Chúa
4. ……..( Cộng đoàn tự soạn theo ý lễ trong ngày )