Suy Niệm Lời Chúa-みことばの食卓

 CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN B

Ngày 07 tháng 2

Bài đọc: G 7,1-4.6-7; 1 Cr 9,16-19.22-23; Mc 1, 29-39.

Theo chu kỳ 3 năm A, B, C các bài đọc Phúc âm Chúa nhật năm B chủ yếu đuợc trích từ Phúc âm thánh Mác cô. Đây là Phúc âm ra đời sớm nhất và ngắn gọn nhất trong bốn Phúc âm, và có thể nói cũng là Phúc âm có trình thuật ‘dồn dập’ nhất ! Đoạn trích hôm nay vẫn còn trong Chuơng 1, bắt đầu từ câu 29 – mà trong 28 câu truớc đó, Mác cô đã luợc qua Sứ vụ của Gioan tẩy giả, Đức Giêsu nhận phép rửa bởi Gioan và chịu cám dỗ trong hoang địa, việc Nguời khởi sự rao giảng và kêu gọi các môn đệ đầu tiên qua đến chuyện Nguời vào hội đuờng ở Capharnaum giảng dạy và trừ quỷ trong ngày Sabbath. 

Giờ đây, vẫn còn trong ngày sabbath đó, Nguời đi cùng bốn môn đệ ( là hai đôi anh em: Anrê – Simon, và Giacôbê – Gioan) đến nhà hai trong số họ là Simon – Anrê và chữa lành cho nhạc mẫu của Simon đang bệnh trên giường. 

Có hai điểm đáng chú ý ở đây là: Chi tiết này cho ta thấy là tuy các môn đệ này đã “bỏ thuyền, bỏ luới” mà đi theo Chúa như ghi ở các câu 18, 20 nhưng các ông không bỏ gia đình ‘một đi không trở lại’ (như một huớng linh đạo sau này thích diễn giải như thế) mà đã mời Chúa về nhà mình. Khi có một nguời con đi theo Chúa, điều đó không có nghĩa là gia đình mất đi một nguời con , nhưng là cả gia đình đuợc đón nhận chính Chúa. Chi tiết Chúa “cầm lấy tay bà mà đỡ dậy” nói lên một sự thân tình mật thiết Chúa dành cho bà (vì nếu chỉ chữa bệnh thì Chúa chỉ cần dùng lời , không cần phải ‘chạm’ (touch) trong bối cảnh một văn hoá rất nhạy cảm với chuyện đó !) Rồi nữa, khi đuợc khỏi, lập tức bà “đón tiếp các ngài” (câu 31) Ân sủng của Chúa có sức chữa lành, và nguời đuợc chữa lành luôn đáp trả cách tự nhiên bằng việc phục vụ Chúa và những kẻ thuộc về Nguời !

Sau đó, dù trời đã tối, “cả thành xúm lại truớc cửa”, nguời ta “đem mọi kể ốm đau và bị quỷ ám đến cho Nguời.” Chúa không từ chối một ai, và hẳn Nguời đã phải chữa bệnh và trừ quỷ đến khuya . Lẽ thường tình con nguời , hễ thức khuya thì đưa đến dậy muộn, nhưng “Sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Nguời đã dậy, đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó.” (câu 35) Mẫu guơng của Chúa ở đây cho mọi nguời muốn làm môn đệ của Nguời là: Hành động và cầu nguyện là hai trụ cột của đời sống đức tin, nhưng không thể vì phải hành động nhiều mà giảm đi sự cầu nguyện – trái lại, nhu cầu hoạt động càng nhiều, ta lại càng cần cầu nguyện nhiều hơn, sâu hơn ! 

Chúng ta cũng không thể ‘ngủ quên’, tự mãn khi xem ra công việc của mình gặp nhiều thành công, thuận lợi – nhưng phải biết ra đi , đến những nơi đất lạ, những vùng ‘ngoại vi’ để cho bất kỳ ở đâu Lời Chúa cũng đuợc rao giảng và con nguời đuợc tiếp nhận sức chữa lành và giải phóng của Phúc Âm .

Gioan X Lộ

 

CHÚA NHẬT VI THƯỜNG NIÊN B

Ngày 14 tháng 2

Bệnh Phong Cùi

Bệnh phong là một bệnh có lịch sử lâu đời như chúng ta đã nghe trong bài đọc 1. Từ thời Cựu Ước đã có những người mắc bệnh phong. Người mắc bệnh phong bị cách ly ra khỏi xã hội, khỏi cộng đồng vì bị cho là ô uế. Họ phải sống một mình và khi đi ra ngoài đường phải kêu lên để mọi người biết mà tránh xa.

Ở Việt Nam chúng ta cũng có rất nhiều người bị bệnh phong. Có lẽ nhiều người biết đến các trại phong nổi tiếng ở Việt Nam như trại phong Quả Cảm, Di Linh, Bến Sắn, Quỳnh Lập….Đây là các trung tâm hay còn gọi là “trại” để các bệnh nhân phong sinh sống. Thường những trung tâm này cách xa khu dân cư và lắm khi hoàn toàn biệt lập với thế giới bên ngoài. Khi còn là tập sinh, tôi đã được nhà Dòng sai đến sống cùng với các bệnh nhân ở trại phong Bến Sắn. Nơi đây vốn được các sơ Nữ Tử Bác Ái thành lập và coi sóc. Sau năm 1975 nhà nước đã tiếp thu trại này nhưng các sơ vẫn hiện diện ở đó để nâng đỡ các bệnh nhân. Tôi và cha J.B Định đã đến đây và sống giữa các bệnh nhân phong trong một tháng. Tiếp xúc với các anh chị em bị bệnh phong ở đây, tôi nhận ra rằng đối với một bệnh nhân phong điều làm cho họ đau đớn không chỉ là những cơn đau thể xác cho bằng sự xa lánh, kỳ thị của những người chung quanh ngay cả những người trong gia đình của họ. Thật ra vì bị vi khuẩn tấn công vào hệ thống thần kinh ngoại biên nên người bệnh ít cảm nhận được sự đau đớn thể xác. Có lần tôi chứng kiến một ông lão bị bỏng nặng vì đã đặt ấm nước vừa đun sôi lên đùi mình để pha trà. Một lần khác khi giúp một ông cắt móng tay, tôi đã sơ ý cắt vào phần thịt của móng tay ông khiến máu chảy ra khá nhiều. Tôi đã hốt hoảng nhưng ông chỉ cười và bảo “không sao đâu, tui có cảm thấy đau đâu mà thầy lo!!”. Dĩ nhiên, họ chịu đau đớn nhiều về thể xác vào những dịp bệnh phát ví dụ như vào ngày trăng tròn chẳng hạn. Còn phần nhiều họ bị tổn thương vì bị lánh xa, ruồng bỏ. Bệnh phong làm cho người bệnh mất các chi trên cơ thể: cụt tay, cụt chân, mù mắt, lở loét, cụt mũi….nên họ bị mọi người xa lánh. Ở trong trại phong Bến Sắn chúng tôi gặp nhiều trường hợp vốn là trai tài gái sắc, tương lai sáng lạn nhưng rồi khi phát hiện bị bệnh họ mất tất cả. Có một cô tên là Hồng. Năm nay có lẽ cô cũng phải hơn 60 tuổi rồi. Lúc chúng tôi ở đó thường hay đến thăm cô. Cô vừa có tài, vừa có sắc, đặc biệt cô hát rất hay. Thời trẻ cô và người yêu thề non hẹn biển với nhau nhưng khi anh chàng đi du học cũng là lúc cô phát hiện mình bị bệnh phong. Gia đình anh này đã cương quyết từ chối và khi bệnh tình thêm nặng cô đã được đưa vào trại phong. Hằng ngày cô sống với bộ dạng sứt mẻ hiện tại của mình nhờ việc nhớ lại những kỷ niệm thời trẻ.

Hay ở Nhật thời gian gần đây đài truyền hình cũng đưa tin con cái của những người bệnh phong đã kiện nhà nước Nhật vì những chính sách phi nhân của họ trong quá khứ đối với những bệnh nhân phong. Những người đi kiện đã thắng và nhà nước phải đền bù cho họ không những vật chất mà còn phải thừa nhận là đã sai khi kỳ thị và ruồng bỏ họ.

Hiểu được hoàn cảnh của những người phong trong thời đại của chúng ta giúp chúng ta hiểu tâm trạng của người bệnh trong bài tin mừng ngày hôm nay và thái độ yêu thương của Chúa Giêsu dành cho anh ta. Anh đã vượt qua luật cấm lúc bấy giờ khi dám đến gần Đức Giêsu. Lời khẩn cầu của anh thật dễ thương khi anh thưa “nếu Ngài muốn”. Có lẽ đây là thái độ cầu nguyện mà chúng ta cần phải có trong hành trình đức tin. Chúng ta nên học người bị bệnh phong ở đây thái độ trao vào tay Chúa ao ước của mình: nếu Chúa muốn thì xin cho con được như vậy! Lắm khi chúng ta chỉ muốn ý của mình được thực hiện chứ không phải ý Chúa. Chúa Giêsu đã chạnh lòng thương, giơ tay đụng vào anh và chữa lành cho anh. Đụng chạm vào người phong sẽ khiến mình ô uế. Chúa Giêsu đã không ngại để mình bị ô uế khi giơ tay ra và chạm vào người bệnh.

Người mang bệnh phong đã can đảm bước qua khỏi những quy luật, sự kỳ thị của xã hội để đến với Đức Giêsu xin được chữa lành. Đức Giêsu đã không ngần ngại vượt qua những lời đàm tiếu của xã hội để giơ tay ra chữa lành người bệnh đang quỳ trước mặt Ngài. Ước chi chúng ta có sự can đảm như người bệnh phong này dám đặt vào tay Chúa những bệnh tật, những thói xấu, những “phong cùi” đang dày vò chúng ta vào tay Chúa với niềm tin rằng nếu Chúa chạm vào tôi, tôi sẽ được chữa lành! Amen.

   Joseph Nhã SJ

CHÚA NHẬT I MÙA CHAY B

Ngày 21 tháng 02

Chúa Giê-su chịu Sa-tan cám dỗ…và có các thiên sứ hầu hạ Người (Mc 1,13)

Mùa Chay năm nào Giáo Hội cũng nhắc nhở con cái mình về những yếu đuối tội lỗi, về những cám dỗ là những điều thực tế chúng ta gặp trong đời sống tự nhiên và đời sống đức tin của mình, về thân phận phải chết của con người… Có thừa không khi nhắc lại một lần nữa trong ngày Chúa Nhật đầu tiên của mùa Chay năm nay, và suy tư những điều Giáo Hội nhắc để làm gì? Nếu hiểu được ý nghĩa của mùa Chay là mùa thanh luyện, mùa thao luyện tâm hồn, cùng với việc thực hiện những phương thế mà Giáo hội hướng dẫn là ăn chay, hãm mình, gia tăng “chất” và “lượng” cầu nguyện, cùng với làm việc bác ái, thì có lẽ những điều Giáo hội nhắc nhở không là những điều “biết rồi, khổ lắm, nói mãi” mà là cơ hội để mỗi người chúng ta có thể thăng tiến hơn, trưởng thành hơn, mạnh mẽ hơn.

Chúa Nhật đầu tiên của Mùa Chay, chúng ta được nghe câu chuyện Chúa Giê-su chịu cám dỗ. Không phải chỉ những con người yếu đuối chúng ta mới phải đương đầu với những cám dỗ mà thôi, nhưng chính Chúa Giê-su cũng đã trải qua những cám dỗ, Ngài cũng phải chiến đấu với ma quỷ trong hoang địa.

Cả ba Thánh sử Mát-thêu, Mác-cô và Lu-ca đều thuật lại cơn cám dỗ của Chúa Giê-su. Tuy nhiên Thánh Mác-cô chỉ kể rất vắn tắt, và dường như Ngài rất kiệm lời. Cũng có thể Ngài nghĩ rằng mọi người đã nghe câu chuyện đó rồi nên không cần phải kể lại nữa mà chỉ cần nhấn mạnh đến một vài chi tiết mà thôi. Những điểm Thánh sử Mác-cô muốn nhấn mạnh là

  1. Sau khi Chúa Giê-su chịu phép rửa, Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa.

 Việc Chúa Giê-su chịu cám dỗ trong hoang địa được thực hiện sau khi Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho Ngài tại sông Gio-đan. Thánh Mác-cô viết như sau: “Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa”. Khi đọc đến câu này, thoạt đầu có lẽ nhiều người đặt câu hỏi: Tại sao Thần Khí lại “đẩy” Chúa Giê-su vào hoang địa để chịu cám dỗ? Tại sao Chúa Giê-su không tự mình đi? Cũng có bản dịch là Thánh Thần “dẫn” Chúa Giê-su vào hoang địa. “Đẩy” là dùng một lực tác động mạnh từ phía sau để một vật có chuyển động về phía trước. “Dẫn” là “kéo” từ phía trước để vật ở phía sau có sự dịch chuyển. Dù là bị “đẩy” hay được “dẫn” vào hoang địa thì xem ra Chúa Giê-su có vẻ như là ở trạng thái bị động. Ngài không hoàn toàn làm chủ và tự ý mình đi vào hoang địa. Tuy nhiên, nếu đọc lại một câu trước của đoạn Tin Mừng hôm nay, thì chúng ta sẽ hiểu rằng khi Chúa Giê-su mới chịu phép rửa xong, Ngài vừa lên khỏi nước thì “thấy các tầng trời xé ra, và thấy Thần Khí như chim bồ câu ngự xuống trên mình”. Điều này có nghĩa là Ngài được tràn đầy Thánh Thần. Thánh Thần bao bọc Ngài. Cả cuộc đời Chúa Giê-su, từ lúc hoài thai trong lòng Thánh Mẫu cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng trên thập giá, lúc nào cũng đầy tràn Thánh Thần. Ngài hằng sống trong sự liên kết và hướng dẫn của Thánh Thần. Do đó, để chuẩn bị cho sứ mạng quan trọng loan báo Tin Mừng, Ngài được Thánh Thần “đẩy”, hay “dẫn” vào cuộc chiến với Sa-tan với tất cả tự do và ý chí của Ngài, với sự nâng đỡ và soi sáng của Thánh Thần. Ước gì mỗi người chúng ta cũng luôn cầu nguyện để Thánh Thần tràn ngập trong lòng chúng ta, nhất là những lúc chúng ta bị cám dỗ. Nhờ ơn Thánh Thần, cũng như Chúa Giê-su chúng ta có thể chiến thắng những mưu chước của ma quỷ trong thế giới hiện tại.  

 Điểm thứ hai giúp chúng ta suy niệm là nơi chốn Chúa Giê-su chịu cám dỗ: hoang địa. Hai năm trước, khi được đi học ở Hoa kỳ, tôi có dịp đi ngang qua vùng bồn địa và sa mạc ở tiểu bang Nevada, nên có thể mường tượng được một chút về hoang địa được nói đến trong cuộc cám dỗ của Chúa Giê-su. Hoang địa là vùng đất mênh mông nhưng hoang vu, không có sự sống của thực vật, động vật, không nhà không cửa, không người thân, tức là không có một tiện nghi tối thiểu nào, không có một nguồn trợ lực nào.Với người Do Thái thì hoang địa là nơi không thể quên. Tổ tiên của họ đã bị thử thách bốn mươi năm trường nơi hoang địa, trước khi được vào vùng Đất Hứa. Ở trong hoang địa mới cảm nhận được sự nhỏ bé của con người, mới thấy rằng để duy trì sự sống cần phải chiến đấu với những điều kiện khắc nghiệt như thế nào. Và khi ở trong hoang địa, ta mới thấy cần đến Chúa như thế nào. Mùa Chay là cơ hội thuận tiện để chúng ta đi vào hoang địa thiêng liêng nơi tâm hồn mình, để có thể cảm nghiệm sự cô đơn, yếu đuối, những cám dỗ, để được thanh luyện cho mạnh mẽ, kiên cường, để từ bỏ những ý riêng, để luôn tìm và sẵn sàng thực hành Thánh ý Chúa, dù có phải đau đớn, thiệt thòi.

  1. Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Satan cám dỗ

 Thời gian Chúa Giê-su chịu cám dỗ là bốn mươi đêm ngày. Con số 40 gợi nhớ nhiều biến cố trong lịch sử Cứu độ và trong Kinh Thánh. Anh chị em đã nghe và biết rồi, chỉ xin được nhắc lại vài ý nghĩa của con số 40 để chúng ta sống bốn mươi ngày mùa Chay với ý thức và cảm nhận mới. Trước hết con số 40 tượng trưng cho một khoảng thời gian dài (40 ngày hoặc 40 năm). Đây cũng là khoảng thời gian để thử thách, phấn đấu, kiên nhẫn. Một thế hệ cũng vào khoảng 40 năm. Thiên Chúa dẫn người Do Thái đi trong sa mạc 40 năm là để chuẩn bị một thế hệ mới, để họ không còn mặc cảm là những người nô lệ như cha ông họ ở Ai cập nữa, mà hoàn toàn tự tin bắt đầu một lịch sử mới.

Và nhất là con số 40 mang ý nghĩa thời gian chuẩn bị để đón nhận ân sủng của Thiên Chúa. Một nhân loại mới được hình thành sau 40 ngày lụt Hồng Thủy thời ông Nô-ê. Một Giao ước mới được Thiên Chúa thiết lập sau 40 ngày Môi-sê gặp gỡ Gia-vê Thiên Chúa trên núi Thánh. Dân Thánh của Chúa đươc bước chân vào Đất Hứa, bắt đầu một lịch sử định cư sau 40 năm lang thang trong hoang địa. Dân thành Ni-ni-vê, nhờ lời ngôn sứ Gio-na đã ăn chay 40 ngày và trở lại với Thiên Chúa… 

Phần mình, tôi sẽ sống 40 ngày Mùa Chay năm nay, sẽ chiến đấu với những cám dỗ nào, và sẽ chuẩn bị tâm hồn để đón nhận ân sủng và niềm vui của Lễ Phục Sinh như thế nào? 

Lm An-tôn Vũ Khánh Tường, SVD

CHÚA NHẬT II MÙA CHAY B

Ngày 28 tháng 2 

“HÃY NGHE LỜI NGƯỜI”

Kính thưa cộng đoàn Phụng vụ! Trong thời khắc dịch bệnh vẫn lan tràn, cướp đi tính mạng nhiều người trên toàn thế giới, Giáo hội vẫn tiếp tục sứ mạng trở nên chứng tá cho lòng nhân từ, xót thương và đầy yêu thương của Chúa qua mỗi ngày, đặc biệt Mẹ Giáo hội cùng với chúng ta nhận bụi tro trên đầu, ý thức thân phận yếu hèn, dễ sa ngã của bản thân. Hơn nữa, chúng ta được mời gọi bước vào thời kỳ ân sủng của Mùa Chay, hướng chúng ta trở về với Chúa, lắng nghe Lời Người và tái khám phá vị Thiên Chúa mà chúng ta hằng tin thờ, tôn kính.

 

Trước hết, Thiên Chúa – Đấng mãi giữ lời: Ab-ra-ham tin tưởng tuyệt đối vào Chúa, mặc dù chưa biết đích đến là đâu. Ông vâng nghe và thực hiện ngay những gì Người phán truyền, thậm chí chịu hy sinh sát tế đứa con được ân ban. Nhờ vào niềm tín thác hoàn toàn vào Thiên Chúa, mà Ab-ra-ham đã chẳng từ chối điều gì, và ông sẵn sàng làm theo thánh ý Chúa. “Ta thề rằng: vì ngươi đã làm điều đó, ngươi không từ chối dâng đứa con duy nhất của ngươi cho Ta, nên Ta chúc phúc cho ngươi, Ta cho ngươi sinh sản con cái đông đúc như sao trên trời, như cát bãi biển; miêu duệ ngươi sẽ chiếm cửa thành của quân địch, và mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc nơi miêu duệ ngươi, vì ngươi đã vâng lời Ta” (St 22, 16-18). Xuyên suốt dòng lịch sử dân tộc Is-ra-el, chúng ta thấy rõ Thiên Chúa đã thực hiện tất cả những gì Người phán hứa. Thiên Chúa hằng trung thành, tín trung, giữ trọn lời của Người, không những dành cho dân Is-ra-el, mà còn trao ban dồi dào cho chúng ta qua Con Một yêu dấu của Người.

 

Thứ đến, Thiên Chúa – Đấng hằng bên đỡ: Thánh Phao-lô xác tín rằng: “Nếu Thiên Chúa ủng hộ chúng ta, thì ai có thể chống lại chúng ta?…Đức Giê-su Ki-tô, Đấng đã chết và hơn nữa đã sống lại, đang ngự bên hữu Thiên Chúa, cũng đang biện hộ cho chúng ta” (x. Rm 8, 31. 34). Thiên Chúa không chỉ giữ lời phán hứa, mà còn luôn nâng đỡ, chở che, bảo vệ chúng ta, dẫu ta chẳng xứng đáng với Người. Tuy nhiên, một thực tế đáng buồn là: chúng ta cho rằng Thiên Chúa đương nhiên phải chăm nom, coi sóc ta; trong khi đó chúng ta vẫn mãi mê với tư lợi, với dự định cá nhân, mà chẳng đoái hoài đến lời kêu mời, thúc giục của Người mỗi ngày, hầu hân hoan thực thi Lời Người, và sống chính trực, yêu thương, tha thứ như Người giáo huấn chúng ta qua Giáo hội, qua các thừa tác viên có chức Thánh, qua mọi biến cố cuộc đời.

 

 

Sau cùng, Thiên Chúa – Đấng luôn hiển dung: Trước khi lên Giê-rê-sa-lem chịu tử nạn, Đức Giê-su đã biến hình, tỏ cho ít nhất ba môn đệ thân tín biết vinh quang của Người. Mặc dù là Thiên Chúa, nhưng Người đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân phận thấp hèn con người, mà vâng phục thực thi chương trình cứu độ của Thiên Chúa Cha qua cuộc khổ nạn, chịu chết nhục nhã trên Thập giá, nhưng từ cõi chết, Người phục sinh. Mầu nhiệm khổ nạn-chịu chết-phục sinh (thường được gọi là biến cố cuộc đời Đức Ki-tô – Christ-event) được tái diễn hằng ngày trong đời sống đức tin của chúng ta, nhất là: trong Thánh lễ, khi tham dự các Bí tích, khi sống Lời Chúa, khi chúng ta sống bác ái, tha thứ. Nhờ đó, Chúa hiển dung nơi cung lòng chúng ta, trong cộng đoàn, hội nhóm chúng ta, trong gia đình và mọi mối tương quan của chúng ta, giúp chúng ta biến đổi cung cách sống, lối sống, tất cả các phương diện con người chúng ta. Tuy nhiên, để cảm nghiệm trọn vẹn nó, tiên vàn, chúng ta phải ghi nhớ lời của Chúa Cha phán: “Đây là Con Ta rất yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Người” (x. Mc 9, 7). Chúng ta phải tháp nhập vào Đức Giê-su, phải nương náu, sống với Người, ở lại trong Người, ngõ hầu mọi lời nói, hành vi, tư tưởng,…của Đức Giê-su tỏ lộ rõ rệt nơi chúng ta.

 

                            Lạy Thiên Chúa – Đấng trung tín

                            Xin cho con luôn nhủ mình tín trung

                            Giữ trọn lời Chúa đến cùng

                            Sống trong hoan lạc thuỷ chung tinh tuyền.

                            Lạy Thiên Chúa – Đấng mãi liên

                            Hằng bên đỡ dù triền miên ngày tháng

                            Che chở con, tình chứa chan

                            Luôn chính trực, đời bình an thiết tha.

                            Lạy Thiên Chúa – Đấng ngợi ca

                            Mặc lấy xác phàm, bao la tin yêu

                            Chịu khổ hình Thập tự treo

                            Phục sinh vinh thắng, sống theo Cha hiền.

                            “Đây là Con Ta tinh tuyền,

                            Vâng nghe Người dạy, hằng luôn thi hành”. Amen!

 

Lm. Xuân Hy Vọng