Suy Niệm Lời Chúa-みことばの食卓

CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN

NGÀY 01 THÁNG 8

Những ngày vừa qua, trên mạng xã hội nổi sóng với chuyện một anh cán phuờng ngoài Nha trang xử phạt một em đi mua bánh mì, còn ‘tuyên giáo’ rằng “Bánh mì không phải là luơng thực, không phải là thực phẩm, mà chỉ là…món ăn !” Câu chuyện bi hài đến thê thảm, và câu nói ấy chắc mãi sau này sẽ vẫn còn đuợc nhiều người nhắc lại để đàm tiếu – nhưng đây cũng có thể là một dịp tốt để ta nhìn lại câu hỏi, “Luơng thực đối với tôi là gì? Có phải chỉ là cơm bánh không ? Tôi đang tìm thứ luơng thực nào trong đời đây? “, vì đó có thể nói chính là chủ đề của Lời Chúa hôm nay !

Bài đọc thứ nhất trích từ sách Xuất Hành thuật lại chuyện dân Israel trong cuộc lữ hành qua hoang địa than trách Môise sao lại dẫn họ ra khỏi Ai cập để giờ họ phải đói khát . Họ đã phải sống kiếp nô lệ khi còn ở Ai cập, và đã hân hoan khi đuợc giải thoát để có Tự do – nhưng nay họ lại nhớ nhung “nồi thịt” của kiếp nô lệ khi không còn đuợc bảo đảm “an ninh luơng thực” ! 

Trong tác phẩm Anh Em Nhà Karamazov, văn hào Nga FYODOR DOSTOIEVSKY có một đoạn thơ dài kể câu chuyện tuởng tượng về cuộc Chúa Giêsu trở lại trần gian giữa thời Tôn Giáo Pháp đình và gặp gỡ viên Đại Phán quan (the Grand Inquisitor) Vị Đại phán quan này vào xà lim thăm Chúa (sau khi dân chúng nhận ra và bắt nộp Nguời cho Toà ) và nói với Chúa là nguời ta cần bánh ăn và đuợc kiểm soát (để đuợc an toàn khỏi gánh trách nhiệm !), còn Ngài – Ngài lại muốn cho họ Tự do ! Theo ông, Chúa đã sai lầm : Khi họ đói khát, thay vì biến đá thành bánh cho họ theo lời Satan, Chúa lại bảo, “Con nguời sống không chỉ bởi bánh !” Nguời ta muốn phép lạ, Chúa lại bảo ‘Ngươi đừng thử thách Thiên Chúa của Ngươi’! Người ta muốn được cai trị, Chúa lại từ chối mọi vuơng quyền trên mặt đất, vì chúng đã đuợc “trao phó cho Satan” ! Khi Chúa nói cùng Môise, “Ta sẽ cho bánh từ trời rơi xuống…để coi dân có còn tuân giữ Lề luật của ta không ?” – thì đó là một lời tiên tri vẫn nghiệm rất đúng cho đến tận ngày hôm nay, với thế giới hiện đại ở thế kỷ 21 này !

Bánh mì (hay bánh làm từ gạo, mạch, kê, bắp gì gì cũng thế ) tất nhiên là thực phẩm – con nguời cần có bánh, và chính Chúa cũng dạy chúng ta cầu nguyện “Xin cho chúng con hôm nay có bánh hàng ngày (our daily bread , notre pain quotidien) nhưng nó chỉ là thực phẩm tạm cho đời sống thể xác chúng ta ở đây và bây giờ. Chúng ta đuợc tạo dựng nên không chỉ cho cuộc sống tạm bợ này, và không chỉ cần bánh mì “giống như mana, cha ông đã ăn và đã chết !” – nhưng ta đuợc tạo nên cho đời sống vĩnh cửu nữa , cần “của ăn tồn tại cho đến cuộc sống muôn đời…” ! Bánh đó là bánh bởi Trời (heavenly bread – pain céleste) , bánh ban Sự sống – chính là Chúa Kitô !

Chúa là Bánh truờng sinh cho con nguời Tự do, không phải cho những ai sống trong não trạng nô lệ !

Gioan X. Lộ

 

CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN

NGÀY 08 THÁNG 8

Bánh Từ Trời Xuống

 Để sống con người cần bánh hay lương thực. Có thể nói không ai có thể sống mà không cần ăn. Ăn uống là điều kiện tối thiểu để duy trì sự sống. Bằng sự khéo léo của đôi tay và sự minh mẫn của khối óc, con người ngày nay có thể tạo ra ngày càng nhiều thực phẩm giúp cho cuộc sống của con người được phát triển tốt hơn. Khi đời sống vật chất còn thấp người ta chỉ nghĩ tới việc ăn cho no bụng để sống. Ngày nay, người ta không còn tập trung nhiều vào việc làm cho no bụng nhưng thay vào đó là những thức ăn “healthy” lành mạnh, mang lại chất lượng tốt hơn cho cơ thể. Chính nhờ vào việc cải thiện chất lượng thức ăn mà tuổi thọ trung bình của con người ngày càng tăng cao. Tuy nhiên, bánh hay lương thực vật chất chỉ có thể giúp con người duy trì và phát triển sự sống thể lý mà thôi. Để sống trọn vẹn trong ơn gọi làm người, con người cần một thứ lương thực khác nữa.

Trong bài tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu giới thiệu cho chúng ta thứ lương thực mà chúng ta cần để có thể sống trọn vẹn ơn gọi làm người. Chúa Giêsu mang đến cho chúng ta Tấm Bánh Từ Trời. Tấm Bánh này không chỉ giúp chúng ta sống trọn vẹn kiếp người mà còn mang lại cho chúng ta một bảo đảm về sự sống đời đời. “Đây là bánh bởi trời xuống, không phải như cha ông các ngươi đã ăn Manna và đã chết, ai ăn bánh này thì sẽ sống đời đời” (Ga 6:59). Tấm Bánh đó chính là Đức Giêsu – Đấng đã hiến dâng mạng sống mình cho con người. “Ai ăn thịt và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết” (Ga 6:55). Lương thực vật chất dù có healthy hay lành mạnh đến đâu đi nữa thì nó vẫn chỉ có thể nuôi cơ thể con người mà thôi. Nói khác đi, tất cả lương thực vật chất đều có giới hạn của nó. Giới hạn đó là sự chết. Đứng trước cái chết dù cho lương thực vật chất có tốt như thế nào đi nữa vẫn không thể tiếp tục duy trì sự sống cho con người. Cho nên, con người cần cả lương thực vật chất và Lương Thực Từ Trời để duy trì cuộc sống của mình đời này và cả đời sau. Cơm bánh cần cho đời sống vật chất thế nào thì Đức Giêsu cũng cần như thế và hơn thế cho đời sống thiêng liêng của con người.

Người Do Thái thời đó đã không thể hiểu được lời mời gọi “ăn thịt và uống máu” của Đức Giêsu. Có lẽ chúng ta cũng cảm thấy khó hiểu và không dám tin đó là sự thật. Tuy nhiên, điều Đức Giêsu đề cập đến trong bài tin mừng hôm nay không có gì khó hiểu cả nếu chúng ta biết quan sát những gì diễn ra hằng ngày trong đời sống của chúng ta. Thật ra hằng ngày chúng ta vẫn đang “ăn thịt và uống máu” của nhau để sống đó thôi. Chúng ta “ăn thịt và uống máu” cha mẹ chúng ta khi các ngài vì chúng ta mà đổ mồ hôi sôi nước mắt lao tác hằng ngày. Có nhiều người cha vì miếng ăn của đàn con mà phải hy sinh cả mạng sống. Có những người mẹ để sinh hạ một sự sống vào đời đã phải đánh đổi bằng sự sống của mình. Chúng ta “ăn thịt và uống máu” nhau khi chúng ta dành thời gian, công sức, tình yêu cho nhau. Những người vợ người chồng hy sinh vì nhau. Những người bạn sẵn sàng dành thời gian cho nhau, nâng đỡ nhau. Cho nên việc Chúa Giêsu mời gọi chúng ta “ăn thịt và uống máu” của Ngài chẳng có gì là khó hiểu cả. Chúa Giêsu đã chịu chết cho chúng ta được sống và để chúng ta được tiếp tục sống Ngài vẫn đang chết hằng ngày để chuộc tội cho chúng ta. Mỗi thánh lễ là một lần chúng ta kỷ niệm cái chết và sự sống lại của Chúa Giêsu. Mỗi thánh lễ là một dịp chúng ta “ăn thịt và uống máu” Chúa. Mỗi thánh lễ là một dịp để Chúa nhắc lại với chúng ta là Ngài yêu chúng ta “các con hãy cầm lấy mà ăn, này là mình Thầy; cầm lấy mà uống, này là máu Thầy”.

Xin cho chúng ta ý thức được chúng ta rước chính Chúa khi chúng ta đưa tay đón nhận chiếc bánh bé nhỏ đơn sơ trong mỗi thánh lễ. Xin cho chúng ta nhớ rằng Chúa yêu chúng ta bằng một tình yêu lớn đến nỗi Chúa trao cho chúng ta cả mạng sống của Ngài. Và xin cho chúng ta can đảm để cho Chúa biến cuộc đời của chúng ta thành tấm bánh và dám bẻ ra trao ban cho anh chị em xung quanh như Chúa đã ban tặng chúng ta chính Ngài.

Joseph Nhã SJ

 

 

LỄ KÍNH ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI

NGÀY 15 THÁNG 8

 

MẸ ĐƯỢC ĐƯA VỀ TRỜI

CHÚNG CON CŨNG SẼ ĐƯỢC NHƯ MẸ

Nhờ sự phát triển của khoa học ngành hàng không vũ trụ, ngày nay chuyện con người bay lên bầu trời, bay ra ngoài vũ trụ không còn là ước mơ, cũng chẳng phải là chuyện khoa học viễn tưởng nữa. Các nước có nền khoa học tiên tiến đều cố gắng nghiên cứu và đầu tư vào lĩnh vực này, để làm chủ không gian và có cả những dự định chiếm lĩnh những dự án về kinh tế từ nguồn tài nguyên không gian nữa. Hôm nay Giáo Hội mừng kính Lễ Đức Maria được đưa lên Trời cả hồn lẫn xác, điều này có ý nghĩa gì với chúng ta?

  1. Vài điều liên quan đến Lễ và tín điều “Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời”

 Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời còn được biết đến dưới một tên gọi khác là “Đức Bà Mông Triệu”, để diễn tả nguyên vẹn ý nghĩa tên gọi bằng tiếng La Tinh “Assumptio Beatæ Mariæ Virginis”. “Mông Triệu”-蒙召 có nghĩa là “Được ơn gọi về”. Theo từ điển Hán Việt, “Mông” có nghĩa là: bị, chịu, gặp, được nhờ, đội ơn (với người trên). Ví dụ như Mông ân nghĩa là chịu ơn; “Triệu” nghĩa là gọi, vời đến. Ví dụ như ta có chữ hiệu triệu, triệu hồi, triệu tập. Vì nhiều người không được học Hán tự nên không hiểu “Đức Bà Mông Triệu” là gì. Khi còn nhỏ, có dịp đi qua Giáo xứ Mông Triệu, thuộc giáo hạt Gia Định, Tổng Giáo phận Sài gòn thì bản thân con cũng chẳng hiểu tại sao có tên gọi như thế. Bây giờ có dịp tra cứu mới hiểu ý nghĩa tên gọi “Lễ Đức Mẹ Mông Triệu”. Nhưng ngày nay, Lễ “Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời” là cách gọi phổ thông ngày Lễ trọng chúng ta mừng kính hôm nay.

Các bài đọc Phụng vụ ngày Lễ trọng hôm nay cho chúng ta ánh sáng để hiểu thêm về tín điều “Đức Maria Hồn Xác Lên Trời”, được Đức Thánh Cha Pi-ô XII sau khi thăm hỏi, hội ý và cầu nguyện với các Giám mục trên toàn thế giới đã long trọng công bố vào ngày Lễ các Thánh 01.11.1950, với Tông hiến Munificientissimus Deus “Thiên Chúa vô cùng vinh hiển”.

Đức Mẹ kết thúc cuộc sống ở trần gian và được Chúa ân thưởng đặc biệt khi đưa cả hồn lẫn xác về Trời. Nội dung tín điều “Đức Maria Hồn Xác Lên Trời” được quảng diễn như sau: “Để tôn vinh Thiên Chúa toàn năng, Đấng đã đổ tràn xuống Đức Maria lòng ưu ái đặc biệt; để tôn kính Con Ngài, Vua bất tử muôn thế hệ và Đấng chiến thắng tội lỗi và sự chết, để làm vinh hiển cho thân mẫu của Ngài và để cho toàn Giáo Hội hoan hỉ… chúng tôi tuyên bố như là Tín điều được Chúa mặc khải rằng: Đức Maria Vô Nhiễm. Mẹ Thiên Chúa, Trọn Đời Đồng Trinh, sau khi qua khỏi cuộc đời trần thế, đã được cất về vinh quang trên trời cả hồn xác”.

Như thế, mặc dù là Lễ trọng mừng kính Mẹ, nhưng mọi sự đều quy về Thiên Chúa và để tôn vinh Thiên Chúa; mọi đặc ân Mẹ được lãnh nhận đều được gắn kết với Con của Mẹ là Đức Giê-su Ki-tô.

  1. Các tín điều về Đức Mẹ và hy vọng cho chúng ta

Bài đọc một trong Thánh Lễ vọng (trích sách Sử biên niên) nói về việc Vua Đa-vít cung nghinh Hòm bia Thiên Chúa về Lều của mình rồi toàn thể dân chúng đã dâng lễ vật toàn thiêu lên Thiên Chúa. Hòm Bia Thiên Chúa (hay còn được gọi là “Hòm Bia Giao Ước”) là một chiếc rương lớn, trong đó có chứa hai bia đá, ghi khắc mười Điều răn do chính Thiên Chúa viết và trao cho ông Môi-sê. Với người Do Thái, Hòm bia là sự hiện diện của Thiên Chúa trong suốt hành trình sa mạc. Thiên Chúa hiện diện giữa dân Người để bảo vệ và đồng hành với họ trên đường về Đất hứa. Hòm bia cũng là sức mạnh của Thiên Chúa, giúp người Do Thái chiến thắng quân thù. Trong Kinh cầu Đức Bà, Giáo Hội tuyên xưng “Đức Bà như Hòm bia Thiên Chúa vậy”. Nếu Hòm bia Thiên Chúa trong Cựu ước được tôn kính vì chứa đựng Luật Giao ước mà Thiên Chúa đã ban cho ông Môi-sê, thì Mẹ Maria còn đáng tôn vinh gấp trăm ngàn lần, vì Mẹ không chỉ mang trong mình Lời bằng chữ viết hay biểu tượng, mà là chính Ngôi Lời của Thiên Chúa. Để cưu mang Ngôi Lời, Thiên Chúa đã gìn giữ Mẹ khỏi tỳ ố của nguyên tội, với đặc ân “Vô Nhiễm Nguyên Tội”.

Bài đọc được trích từ sách Khải huyền chúng ta nghe trong ngày Lễ chính hôm nay, Thánh Gioan cũng nhắc lại hình ảnh “Hòm Bia Giao Ước”, rồi Thánh sử thuật lại Điềm lạ được thị kiến, về việc một phụ nữ “mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao” và việc sinh hạ con trai của người phụ nữ ấy. Người phụ nữ được nói đến ở đây là Đức Maria và qua việc hạ sinh Con Một Thiên Chúa, Thiên Chúa ban cho Mẹ hai đặc ân nữa đó là “Mẹ Thiên Chúa”“Trọn đời Đồng trinh”.

Bài đọc hai, Thánh Phao-lô Tông đồ cho các tín hữu Cô-rin-tô và cho chúng ta một niềm hy vọng về sự sống lại và cuộc sống vĩnh cửu khi gắn kết cuộc đời của chúng ta với Chúa Ki-tô. “Đức Ki-tô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu…mọi người nhờ liên đới với Đức Ki-tô, cũng được Thiên Chúa cho sống” (câu 20,22) và mọi người sẽ theo thứ tự của mình. Người mở đường là Đức Ki-tô, “rồi đến lượt những kẻ thuộc về Người” Nếu sau Đức Ki-tô không phải là Mẹ Maria, thì ai có thể xứng đáng hơn là người thứ hai bước vào vinh quang Phục Sinh ? “Sau khi đã mãn cuộc đời dưới đất, Đức Maria được đem về trời cả xác hồn” là đặc ân cuối cùng Thiên Chúa ban cho Mẹ, “Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời” cũng là tín điều thứ tư trong bốn tín điều chính thức của Giáo Hội về Đức Mẹ. Theo một vài truyền thống cổ xưa thì dường như Đức Mẹ không trải qua cái chết thể lý, mà chỉ ngủ một giấc rồi Thiên Chúa đưa Mẹ vào Thiên Đàng. Do đó, có thời Phụng vụ đã cử hành ngày qua đời của Đức Mẹ dưới tên gọi “Đức Mẹ ngủ”, “Đức Mẹ an giấc” hay “Đức Mẹ sinh vào Nước Chúa”. Giáo hội không xác quyết rằng Đức Mẹ có chết hay không nhưng Giáo hội xác tín rằng sau khi kết thúc cuộc sống ở trần gian này, Mẹ được Chúa đưa cả xác và hồn lên Trời. Tuy nhiên, đa số các Thánh đều đồng ý rằng, Đức Mẹ đã chết và được chôn cất trước khi được rước lên trời. Điều này cũng dễ hiểu, vì chính Chúa Giê-su cũng đã chết thật trước khi khải hoàn Phục sinh. Cái chết của Mẹ không phải là hậu quả của nguyên tội cũng như tội riêng (vì Mẹ được ơn Vô Nhiễm), nhưng là để nên giống Chúa Ki-tô hơn. Trong toàn thể công trình Cứu độ, Mẹ liên kết chặt chẽ với Con của Mẹ, trong sự sống và sự chết và Phục sinh vinh hiển. Mẹ đồng công với Con của Mẹ trong cuộc chiến với tội lỗi và tử thần, hiệp thông trọn vẹn vào công trình Cứu độ ấy. Tín điều “Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời” cho dân Chúa một dấu chỉ của hy vọng rằng sẽ được hưởng vinh quang như Đức Maria. Tuy không được ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội như Mẹ nhưng chúng ta được ơn tha tội mỗi khi lãnh Bí tích Hòa giải, được ban ơn để cuộc đời bớt ô nhiễm bởi tội. Tuy không được ơn làm Mẹ Thiên Chúa, nhưng chúng ta được ơn làm Con Thiên Chúa, được dự phần vào cuộc sống Thần linh với Ba Ngôi Thiên Chúa. Tuy không được ơn “Trọn Đời Đồng Trinh” như Mẹ, nhưng chúng ta được mời gọi quý trọng thân xác của mình và của người khác, sống trong sạch, để luôn ý thức và xứng đáng là “Đền thờ của Chúa Thánh Thần”. Chúng ta cũng không được vinh phúc về Trời cả hồn lẫn xác như Mẹ, nhưng chúng ta tin chắc chắn chúng ta sẽ được sống với Chúa Ki-tô, Con của Mẹ và với Mẹ trên Nước Trời, sau khi chúng ta kết thúc cuộc sống nơi trần gian này.

Trong kỹ thuật chế tạo máy bay, phi thuyền vũ trụ có ba thông số kỹ thuật căn bản và quan trọng là hệ thống định vị, vật liệu chế tạo sao cho càng nhẹ (nhưng chắc chắn) càng tốt và cuối cùng là động cơ mạnh và nguồn năng lượng ít tiêu hao, đầy đủ cho chuyến du hành. Tương tự như thế, trong hành trình về quê trời, chúng ta cũng cần được định vị cuộc đời mình cho đúng nhờ đọc Kinh Thánh, lắng nghe và thi hành giáo huấn của Hội Thánh, nghĩa là biết hướng cuộc đời mình lên Trời cao, là đích điểm của cuộc đời. Mẹ đã được Chúa đưa về Trời, là định hướng và gương mẫu cho con cái Mẹ đang còn lữ hành trần gian. Thứ hai càng nhẹ nhàng, thanh thoát khỏi những kéo ghì của vật chất và tội lỗi, chúng ta càng dễ bay cao, bay xa trong đời sống thiêng liêng. Và cuối cùng, thường xuyên lãnh nhận các Bí tích, đặc biệt là Bí tích Hòa giải và Thánh Thể, chúng ta càng được tiếp thêm nguồn năng lượng dồi dào, đẩy con thuyền cuộc đời chúng ta tiến nhanh, tiến mạnh trên đường nhân đức.

Mừng kính Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, chúng ta tin tưởng rằng nhờ lời Mẹ, Đấng đang hưởng hạnh phúc Thiên Đàng, luôn cầu thay nguyện giúp và nâng đỡ phù trì cho từng người, chúng ta sẽ can đảm sống đức Tin, gắn chặt đời mình với Đức Ki-tô và cộng tác với Ngài trong công trình Cứu độ như Mẹ đã nêu gương, vững bước trong tin yêu và hy vọng trên con đường tiến về Quê Trời.

Lm An-tôn Vũ Khánh Tường, SVD

 

 

CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN

NGÀY 22 THÁNG 7

 

BỎ NGÀI, CON SẼ RA SAO?

Không ai trong chúng ta đã ít nhất một lần quên hoặc không giữ lời hứa với Chúa và với người khác! Quả vậy, chúng ta thường có xu hướng chọn lọc Lời Chúa để nghe và để sống. Câu hỏi đặt ra: Bỏ Chúa, con sẽ ra sao? Chắc chúng ta chẳng dám bỏ Chúa đâu, nhưng thật tình, chúng ta chưa đủ can đảm bước theo chân Chúa đến cùng!

Một biến cố rất hệ trọng trong bài Tin Mừng hôm nay, sau khi Đức Giê-su mạc khải cho đám đông dân chúng biết: “Chính Ta là bánh trường sinh. Ai đến với Ta, không hề phải đói; ai tin vào Ta, chẳng khát bao giờ” (Ga 6, 35), các môn đệ dường như chẳng tin, và bỏ đi với thái độ như Thánh sử Gio-an mô tả “có nhiều môn đệ của Chúa Giêsu nói rằng: “Lời này chói tai quá! Ai nghe được!”” (Ga 6, 60). Đối lại, không dễ dàng bỏ cuộc, Đức Giê-su kiên trì giải thích, dạy dỗ cho họ. Tuy nhiên, họ vẫn không tin và nhiều người trong số họ bỏ đi. Có lẽ Ngài cũng buồn, và liền hỏi Mười hai Tông đồ: “Cả các con, các con có muốn bỏ đi không?” (Ga 6, 67). Thiết nghĩ, Đức Giê-su đang đặt câu hỏi này cho mỗi người chúng ta: Này…(tên của mỗi người), con có muốn bỏ Thầy không?

Lời đáp trả trên sẽ phụ thuộc vào mỗi người chúng ta, phụ thuộc vào đời sống đức tin chúng ta, phụ thuộc vào mối tương quan thế nào với Chúa. Giả như chúng ta bỏ Chúa thì chúng ta sẽ ra sao? Chúng ta vẫn sống tốt chứ, hay chỉ cố sống mà chẳng khác gì người chết trong thân xác ốm o gầy còm di động? Với ý nghĩ này, chúng ta cùng suy gẫm đôi điều sau:

Bỏ Ngài, con sẽ làm được gì? Như dân Is-ra-el, khi bỏ Thiên Chúa, họ chạy đến bái lạy, thờ phượng các thần ngoại bang, sụp lạy trước ngẫu tượng bò vàng. Có lẽ chúng ta cũng giống như họ, nhưng khác chút ít, cụ thể: chúng ta trở thành ông chúa, bà chúa của bản thân, của cái bụng, và rất hà khắc với những người khác, trong khi dễ dãi với chính mình! Nếu không tôn thờ Thiên Chúa thật nữa, thì chắc hẳn chúng ta sẽ thờ lạy tiền tài, danh vọng, chức quyền, mọi thứ vinh quang, sa hoa trần thế, và ma quỷ vốn được gọi với tước hiệu mỹ miều: ông hoàng thế gian. Đức Giê-su thấu tỏ sự yếu hèn của chúng ta, nên Ngài khẳng định: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15, 5). Nói cách khác, bỏ Chúa, chúng ta sẽ không làm gì được, dù sự việc nhỏ bé hoặc lớn lao, đơn giản hay phức tạp, v.v…Trên hết, tâm hồn mất đi sự bình an đích thật, vì chỉ có ai ở với Chúa mới mong được ơn thánh này. Sự bình an không hệ tại nơi vật chất, tiện nghi, địa vị, danh giá, hay thành công, mà chỉ cần ‘có Chúa ở bên’ là quá đủ cho chúng ta.

Bỏ Ngài, con sẽ đi về đâu? Trong bài đọc I, Gio-suê khẳng khái chất vấn và muốn dân Is-ra-el lựa chọn và đưa ra quyết định rõ ràng: tôn thờ Thiên Chúa hay các thần ngoại bang (x. Gs 24, 15). Dĩ nhiên, không chỉ hỏi dân chúng, mà ông còn hỏi chính bản thân ông và đã xác quyết đáp lời: “Phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ tôn thờ Chúa” (nt). Chứng kiến mọi công trình vĩ đại, kỳ công lớn lao mà Thiên Chúa thực hiện cho dân Is-ra-el, họ đã từng cam kết giao ước với Ngài. Lần này, họ đồng thanh trả lời với Gio-suê: “Không thể có chuyện chúng tôi bỏ Chúa mà tôn thờ những thần ngoại” (Gs 24, 16). Tuy nhiên, như chúng ta biết bao phen họ bất tín, bất trung, bỏ Thiên Chúa, mà chạy theo các ngẫu tượng, thần ngoại bang, và rồi phải gánh chịu những hệ luỵ của thái độ, hành vi ấy. Còn chúng ta, nếu bỏ Chúa, có lẽ chúng ta sẽ chạy theo sự ích kỷ, thói đời xấu xa, lạc vào những dục vọng, đam mê, sở thích vô bổ và vô nghĩa. Trong đời sống hôn nhân-gia đình, nếu bỏ Chúa, chúng ta sẽ chẳng biết quan tâm đến người bạn đời của mình, chẳng chút để ý đến ai, ngoài bản thân. Như vậy, vợ chồng sẽ không bao giờ “yêu thương như Đức Giê-su Ki-tô đã thương yêu Giáo hội, phó trót mình và thánh hoá Giáo hội” (x. Ep 5, 25). Nếu bỏ Chúa, sớm muộn gì chúng ta cũng lầm đường lạc lối, và tệ hơn, bị dẫn đến chỗ diệt vong.

Bỏ Ngài, con sẽ bước theo ai? Khi bị bạn bè bỏ rơi, có thể chúng ta vẫn còn có gia đình dang rộng cánh tay đón nhận, chở che, an ủi, vỗ về. Lúc cô đơn, sầu khổ, bị gia đình ruồng bỏ, bị đẩy ra bên lề xã hội, lẽ dĩ nhiên, chúng ta vẫn còn có bạn bè thân hữu, những ai quảng đại bao dung giúp đỡ, hỗ trợ ít nhiều. Phần nào đó, chúng ta cũng cảm thấy lòng ấm lại, và tiếp tục vươn lên sống tốt. Thế nhưng, khi bỏ Chúa, dường như quanh ta chỉ còn là vô nghĩa, mọi thứ trở nên xa cách, và lẽ sống tựa như mất hút. Chính vì vậy, Thánh Phê-rô đại diện cho Nhóm Mười hai xác tín đáp lời Đức Giê-su: “Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con tin và chúng con biết rằng: Thầy là Đấng Ki-tô Con Thiên Chúa” (Ga 6, 68-69). Nói cách cụ thể hơn, duy chỉ mình Đức Giê-su mới có lời mang lại sức sống cho chúng ta. Chỉ mình Ngài mới trao ban sự sống đời đời cho chúng ta. Chỉ mình Ngài nâng đỡ, bồi dưỡng tâm trí, linh hồn, thân xác chúng ta mà thôi. Bởi lẽ, Ngài là Đấng được xức dầu tấn phong (Đấng Ki-tô) và là Con Thiên Chúa hằng sống. Vì mọi sự ngoài Chúa ra đều tạm bợ, tạm thời và hư vô. Dẫu chúng mang lại chút gì đó hoan lạc cho tâm tư, chút gì đó an lòng, v.v…, nhưng cũng chỉ là tức thời, chẳng bền lâu.

Tóm lại, mỗi người chúng ta tự hỏi: “bỏ Chúa, con sẽ ra sao?”, và đáp lại với Ngài. Hơn thế, cùng nhau chúng ta quyết tâm can đảm dấn thân bước theo chân Chúa đến cùng, không do dự hay ngờ vực, không cằn nhằn hay càu nhàu, không than trách hay đổ lỗi; trái lại, luôn vui tươi và hoan lạc, luôn tin tưởng và phó thác, luôn nỗ lực và cộng tác, luôn yêu mến và cậy trông. Amen!

Lm. Xuân Hy Vọng

 

CHÚA NHẬT XXII THƯỜNG NIÊN

NGÀY 29 THÁNG 8

 

 “Yêu thương là chu toàn Lề Luật”

Nguyện xin Bình an và Thiện hảo của Thiên Chúa luôn ở cùng anh chị em.

Sau 5 Chúa Nhật liên tiếp chúng ta được nghe Lời Chúa qua Tin Mừng theo thánh Gioan về bánh trường sinh, hôm nay chúng ta trở lại vơi Tin Mừng theo thánh Maccô cho đến hết năm Phụng vụ.

Bài Tin Mừng hôm nay, từ việc “dùng bữa mà tay vẫn còn ô uế, nghĩa là chưa rửa” của một vài môn đệ chúng ta thấy được thái độ hầu như tương phản giữa người Pha-ri-sêu với Đức Giê-su về việc thực thi lề luật. Đối với dân Do Thái, thì luật có hai nghĩa : Thứ nhất và quan trọng hơn hết là Mười Điều Răn và thứ hai là năm quyển sách đầu của Cựu Ước hoặc gọi theo cách của họ là Ngũ Kinh. Bộ sách luật Ngũ Kinh người Do Thái gọi là Torah. Sách gồm 5 quyển, dầy 250 trang, chứa 613 khoản luật chia ra 365 khoản cấm (tương đương số ngày trong một năm) và 248 khoản buộc (tương đương số lượng các khúc xương trong cơ thể con người). Sự thật, Ngũ Kinh hàm chứa một số quy tắc và chỉ dẫn chi tiết, nhưng về các vấn đề đạo đức, những gì được nêu lên chỉ là một loạt nguyên tắc mà người ta phải tự cắt nghĩa và ứng dựng cho riêng mình.

Ngoài bộ luật chính ra, còn rất nhiều khoản khác được thêm vào. Đây không phải là luật, mà là những tập tục được lưu truyền từ đời này sang đời kia. Các tập tục này được truyền lại cho những thế hệ mai sau. Và sau cùng thì người ta đã chép lại và đóng lại thành tập gọi là Talmud. Talmud là bộ sách giải thích Luật của Do Thái giáo. Bộ sách này được chia thành 2 loại; Một là Mishna và hai là Gemara. Bộ sách này có tới 523 quyển (William Barclay).

Việc các môn đệ của Chúa bị người ta bắt bẻ trong bài Tin Mừng hôm nay dựa theo những qui định trong tập Talmud này. Đây là vấn đề không phải chỉ là vệ sinh, mà là tập tục tôn giáo về “sạch” và “nhơ”, được ghi thành luật của Môsê trong sách Lêvi (11), được thêm vào nhiều chi tiết và quy định qua truyền thống. Trên thực tế, những truyền thống họ đặt ra không có Lề Luật nào quy định và chắc chắn không xuất phát từ Thiên Chúa. Chúng chỉ là những quy tắc rườm rà nhằm thể hiện sự văn minh, lịch sự hay liêm khiết theo kiểu máy móc và giả tạo mà ở đây là việc yêu cầu rửa tay trước khi ăn.

Có một chi tiết ta cũng nên để ý. “Có những người Pharisêu và một số kinh sư …là những người từ Giêrusalem đến”. Giêrusalem, thủ đô chính trị và tôn giáo. Ngược lại, môn đệ của Đức Giêsu và chính Đức Giêsu, là những người xứ Galilê, những người thuộc tỉnh lẻ, dù vẫn là những tín hữu sốt sắng, nhưng đã cho chen vào tục lệ chung một vài truyền thống địa phương bị những người “trong sạch” ở Giêrusalem coi như những thái độ buông thả. Bởi vậy, vấn đề người Pha-ri-sêu quan tâm không là vấn đề vệ sinh, nhưng là con người theo định nghĩa của họ, dựa theo xuất thân và địa vị. Từ đó, thay vì giữ luật vì lòng yêu mến Thiên Chúa, người Pha-ri-sêu lợi dùng lề luật để lên án người khác, phô trương và thỏa mãn bản thân. Thay vì đáp trả tình yêu của Thiên Chúa qua việc thực thi lề luật thì họ dùng lề luật để thỏa mãn bản thân, thay vì nhận ra Đức Giê-su và theo Ngài, họ muốn Ngài phải theo những suy nghĩ của họ.

Nhìn vào xã hội Việt Nam chúng ta, nhìn vào xã hội chúng ta đang sống, nhìn vào cộng đoàn chúng ta đang sinh hoạt, nhìn vào gia đình và nhìn vào bản thân mỗi một người chúng ta, không nhiều thì ít đâu đó vẫn còn hình ảnh của những “kẻ đạo đức giả” mà Chúa Giê-su đã mạnh mẽ lên án trong bài Tin Mừng hôm nay. Có lẽ tất cả chúng ta còn nhớ hình ảnh những kẻ chặn bắt cậu thanh niên vì đi mua bánh mì giúp bạn, rồi những câu nói “bánh mì không phải là lương thực, thực phẩm”, “mày ở trên núi mày xuống hay sao chớ, phải trên núi xuống không” của ông Phó chủ tịch UBND phường. Những cổng sắt chặn lối đường dân; những giấy tờ vô nghĩa, tốn tiền bạc và thời gian của dân, … những việc làm vô ý nghĩa và gây gánh nặng cho người khác.

Nhìn vào gia đình, đâu đó vẫn còn những luật lệ thiếu yêu thương và tôn trọng bị áp đặt giữa chồng/vợ đối với vợ/chồng, giữa cha mẹ với con cái. Là những bậc cha mẹ, có lẽ một trong những vấn đề lo lắng khá lớn đó là đời sống Đức tin và việc giáo dục con cái, bởi ta đang sống trong một môi trường xã hội mà điều kiện của việc dạy Giáo lý và sống Đức tin không được như ở Việt Nam. Nhưng mong các bậc cha mẹ cũng đừng vì quá lo lắng mà có những lời nói hay hành động thiếu yêu thương và tôn trọng, xúc phạm đến nhân phẩm làm con cái phải luôn lo lắng sợ hãi. Vẫn biết cha mẹ có trách nhiệm và chịu áp lực trong việc giáo dục và nuôi dưỡng con cái, nhưng nhất định phải nhớ rằng đó là Ơn gọi và con cái là Quà tặng từ Thiên Chúa. Ước gì khi nhìn vào vợ/chồng, cha mẹ/con cái, đến với tha nhân và xã hội, chúng ta luôn cho Chúa cơ hội được cùng đồng hành với chúng ta. Cách riêng là khi đối diện với những bất đồng, những vấn đề của cuộc sống.

Xin Mẹ Maria luôn gìn giữ và hướng dẫn ta trong mọi sự. Và, ước gì chúng ta luôn thực thi theo lời yêu cầu căn bản của Mẹ rằng “Người bảo gì, các con cứ việc làm theo”(Ga 2,5). Mong chúng ta luôn thực thi lời mời gọi của Chúa Giê-su, “hãy ở lại trong tình thương của Thầy” và thực thi điều răn của Thầy “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”(Ga 15,12). Bởi, “Đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại ; yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy”(Rm 13,10).

Fx. Trần Văn Hoài, OFMConv.