Suy Niệm Lời Chúa-みことばの食卓

CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN

04-10-2020

 

Kỳ Vọng của Thiên Chúa

Phụng Vụ Lời Chúa trong Chúa Nhật XXVII Thường Niên (A) hôm nay mời gọi chúng ta chiêm ngắm hai hình ảnh hoàn toàn trái ngược nhau. Một bên là hình ảnh về Thiên Chúa giàu lòng kiên nhẫn, luôn trung tín và đầy kỳ vọng vào Dân Riêng của Người. Ngược lại với hình ảnh ấy là thái độ của Dân đối với Thiên Chúa, một thái độ vô ơn và bất trung. Chúa Giê-su mượn hình ảnh vườn nho, một hình ảnh rất quen thuộc của dân Israel thời bấy giờ, với những tá điền bất nhân, để làm nêu bật về một Thiên Chúa yêu thương, yêu thương con người đến cùng (x. Ga 13, 1; 3, 16) và mời gọi mỗi người chúng ta sám hối, trở về với căn tính cũng như ơn gọi của chính mình.

Vườn nho là hình ảnh về Nước Thiên Chúa, trong khi những người canh tác vườn nho chính là những dân riêng được Chúa tuyển chọn. Chúa xây dựng “vườn nho” cho họ, tạo điều kiện tốt nhất để họ sống hạnh phúc và được cứu độ. Người kiên nhẫn chờ đợi và ao ước chỉ có một điều là, những người được Người yêu thương sẽ sinh hoa lợi cho Nước Chúa và cho trần gian. Hoa lợi ở đây có thể hiểu là công bằng, bác ái, xây dựng hòa bình và phụng sự Thiên Chúa.

Thế nhưng trớ trêu thay, dân được Chúa tuyển chọn lại nổi loạn, tự kiêu, không vâng lời Thiên Chúa ngang qua Kinh Thánh cũng như các sứ giả của Người. Tất cả những gì họ có để sống đều là Ơn Ban. Họ chỉ là những người làm công trong vườn nho của Chúa. Thế mà họ lại coi mình như những ông chủ, tùy tiện sử dụng tự do với những ơn ban theo ý riêng, gây bất công, sát hại những người ngay lành và thậm chí đóng đinh cả Người Con Một Yêu Dấu của Chúa.

Tuy nhiên, điều lạ lùng ở đây chính là: không những Thiên Chúa không tiêu diệt họ mà còn tiếp tục thi ân, kiên nhẫn chờ đợi và mong họ hối cải để “sinh hoa lợi”. Bởi vì Người trung tín trong mọi lời nói và việc làm. Người đã hứa cứu độ con người thì Người sẽ thực thi, dẫu phải trả giá bằng chính sự sống của Con Người. Bởi vì Chúa tôn trọng tự do của con người. Bởi vì Chúa yêu thương con người đến cùng. Như thánh Phê-rô đã nói: “Người kiên nhẫn đối với anh em, vì Người không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người đi tới chỗ ăn năn hối cải” (2 Pr 3, 9).

Trở về với lòng mình. Tôi tự hỏi: tôi đã làm gì cho Chúa? Tôi đang làm gì cho Chúa? Và tôi sẽ làm gì cho Chúa để sinh hoa lợi cho Nước Chúa và cho trần gian? Tôi có sống với lòng biết ơn không? Tôi có đón nhận Chúa Giê-su Ki-tô là Cứu Chúa của mình không? Hay tôi giống như những kẻ vô ơn trong dụ ngôn, loại bỏ Chúa Ki-tô cùng với tình yêu của Người ra khỏi đời sống tôi? Tôi đáp trả tình yêu vô bờ bến của Thiên Chúa như thế nào?

Hôm nay cũng là ngày kết thúc tháng cầu nguyện đặc biệt cho công cuộc bảo vệ mọi sự sống mà Giáo Hội Nhật Bản đã kêu mời từ đầu tháng 9 tới nay. Ý thức thân phận thụ tạo của mình trong sự liên đới với mọi tạo vật khác, tôi được mời gọi để tôn trọng mọi sự sống trên trần gian và làm cho thế giới này thêm tươi đẹp. Ý thức mình được Chúa yêu thương và cứu chuộc, tôi được mời gọi để sống như một người con của Chúa, để xây dựng gia đình, cộng đoàn, xã hội và thế giới chan hòa công bình – bác ái.

Hiệp cùng Đức Thánh Cha Phan-xi-cô, đặc biệt cùng với Giáo Hội Nhật Bản, cùng với tràng chuỗi Mân Côi, chúng ta cùng dâng lên Chúa lời cầu nguyện sau:

Lạy Thiên Chúa, Đấng tạo thành vũ trụ vạn vật, Chúa luôn quan phòng mọi thụ tạo bằng tình yêu mến của Người. Xin Chúa soi sáng tâm hồn mỗi người chúng con để chúng con có thể nhận ra tiếng kêu khóc của những anh chị em bị bỏ rơi, bị quên lãng và của trái đất đang bị tổn thương nghiêm trọng. Xin cho chúng con đừng vô cảm, nhưng thấy rõ vai trò của mình trong việc gìn giữ ngôi nhà chung là trái đất biết nâng đỡ những ai yếu hèn và nghèo khó. Để Bảo Vệ Mọi Sự Sống và mở ra một tương lai tươi đẹp hơn, xin bao bọc chúng con bằng ánh sáng và sức mạnh của Chúa Thánh Linh, biến chúng con thành những khí cụ tình yêu của Chúa. Và cùng với mọi tạo vật chúng con có thể ngợi khen Chúa đến muôn đời. Chúng con cầu xin nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng con. Amen.

Linh Mục GB Phan Dức Định SJ

 

CHÚA NHẬT XXVIII THƯỜNG NIÊN

11-10-2020

 

Bài Phúc âm hôm nay là phần đầu Chương 22 theo thánh Matthêu, thuờng đuợc gọi chung là Dụ ngôn Tiệc cuới (parable of wicked tenants), tuy có nhà chú giải cho là có hai dụ ngôn khác nhau ở đây, với phần từ câu 11 đến 14 có thể coi như một dụ ngôn riêng (tuy là bổ sung cho dụ ngôn chính từ câu 1 đến 10) gọi là Dụ ngôn Áo cưới (parable of the wedding garment) Dụ ngôn chính này có những nét song song với dụ ngôn Những tá điền hung ác (parable of wicked tenants) ở Mt 21,33-43 mà chúng ta vừa đọc Chúa nhật 27 tuần truớc. Phúc âm theo thánh Mát thêu đuợc viết sau năm 70 khi thành thánh Jerusalem đã bị phá hủy và dân Do thái đã bắt đầu phải tản mác bốn phuơng trời – và các nhà chú giải Thánh kinh cho rằng đó là điều đuợc ám chỉ nơi câu 7, “Nhà vua sai quân đi tru diệt và thiêu hủy thành phố của chúng!” Chúa Giêsu kể dụ ngôn này cũng như dụ ngôn Tá điền hung ác khi Ngài nói với các thuợng tế và Pharisiêu, tức là những nguời trong giới lãnh đạo tôn giáo Israel đã ra mặt chống đối lại Ngài – và điều đó giải thích sự gay gắt dữ dội trong ngôn ngữ Ngài dùng. 

Sứ điệp của dụ ngôn nhắm đến nguời Do thái, nói rằng chính bởi họ đã từ chối lời mời gọi vào dự Tiệc Cuới của Con Thiên Chúa mà nay họ phải chịu số phận mất nuớc bi thuơng – và nay Bàn tiệc của Thiên Chúa đuợc mở ra cho toàn thể con nguời mọi dân mọi nuớc. Tuy nhiên, cũng theo một số nhà chú giải, thì các chi tiết trong dụ ngôn là có thể hiểu đuợc chứ không quá phi lý trên cái nền Quy tắc Danh dự (code of honor) của văn hoá thời ấy. Được mời đi dự tiệc cuới mà “không thèm đếm xỉa” (câu 5) là làm mất danh dự của nguời mời (chưa nói tới chuyện tày trời là “sỉ nhục và giết chết đầy tớ của vua” (câu 6) Vua cho quân đi chu diệt họ là một hành vi đòi lại danh dự – chấp nhận đuợc trong con mắt thời đó. Lại nữa, mở tiệc cuới mà buổi tiệc loe hoe vắng vẻ cũng là điều mất danh dự cho gia chủ, nên ông cần làm đầy thực phòng bằng những khách mời khác, cho dù phải kêu gọi “từ khắp các nẻo đuờng”, và “bất luận xấu tốt” (câu 10) Quy tắc danh dự cũng là then chốt cho câu chuyện áo cuới ở phần cuối. 

Nguời ta có thể thắc mắc làm sao nguời đuợc lùa vào ăn tiệc làm sao có thể mặc sẵn y phục lễ cuới. Nhưng thắc mắc đó tuy rất lô gích nhưng lại ‘không liên can’ (irrelevant) vì Dụ ngôn Phúc âm là một thể văn không tuân theo các quy tắc của văn học hiện thực (literary realism) Điều quan trọng là bài học nguời nghe cần rút tỉa cho chính mình. 

Chúng ta không phải là nguời Israel, dân riêng đuợc Chúa tuyển chọn tự ngàn xưa, nhưng đã đuợc đón nhận lời mời vào dự Tiệc Cuới Con Chiên từ thân phận “lang thang đầu đuờng xó chợ”. Nhưng đã đón nhận lời mời thì ta phải thay đổi chính mình. Từ “mặc lấy” trong Thánh kinh không chỉ có nghĩa như thay thế cái gì ở ngoài mình như cái quần cái áo, mà là một thay đổi cả bên trong. Như Thánh Phaolô ghi trong Thư gửi tín hữu Êphêsô, “Anh em hãy cởi bỏ con nguời cũ…và mặc lấy con nguời mới đã đuợc tạo nên theo hình ảnh Thiên Chúa trong công chính và thánh thiện.” (Eph 4,22-24) Và hơn thế nữa, tấm “áo” mà chúng ta phải mặc lấy, chính là Đức Kitô, “Thật vậy, bất cứ ai đuợc thanh tẩy để thuộc về Đức Kitô, đều mặc lấy Đức Kitô!” (Galath 3, 27)

Gioan X Lộ

 

 

CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN

18-10-2020

 

VẤN NẠN QUYỀN BÍNH DÂN SỰ

 “Của Xêda hãy trả cho Xêda. Của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa” (Mt 22,21). Câu nói của chúa Giêsu năm nào đã làm cho nhiều người Pharisêu và nhóm người phe Hêrôđê là những người đầy dã tâm đang tìm mọi cách hãm hại Người phải chưng hửng. Thoặt nghe câu chuyện chúng ta dễ nghĩ đến sự khôn ngoan của Chúa Giêsu. Phải nhận rằng Người đã tài tình thoát khỏi cái thế tiến thoái lưỡng nan do bởi cái bẫy hiểm độc của nhóm Pharisêu và phe Hêrôđê, những người vốn không thích nhau, thì nay lại hợp sức giăng ra. Tuy nhiên, nhân câu chuyện thú vị này và nhất là qua câu trả lời của Chúa Giêsu, chúng ta có được một cái nhìn chuẩn mực hơn về vấn nạn quyền bính trong các xã hội dân sự.

Con người là hữu thể có tính xã hội. Có thể nói rằng tính xã hội là một trong những yếu tố nền tảng làm nên con người. Không ai là một hòn đảo. Kinh Thánh khẳng định: “con người ở một mình không tốt” (St 2,18). Cái không tốt ở đây không chỉ liên hệ đến phẩm tính mà còn liên hệ đến căn tính, nghĩa là liên hệ đến hữu thể “người”. Nói nôm na là nếu “ở một mình” thì không thể thành người đúng nghĩa. Một vài sự kiện về các trẻ bé lạc trong rừng sâu như một minh chứng rõ ràng. Dù sau đó khi được phát hiện và đưa về thì “người rừng” rất khó hòa nhập với xã hội loài người. Quyền bính có ra là do yêu cầu của tính xã hội. Đã là hai người thì tất yếu có kẻ trên, người dưới. Đã là tập thể thì phải có người đứng đầu để lãnh đạo. Một tập thể mà không có người chỉ huy thì chuyện tan rã là chuyện không sớm thì muộn cũng xảy ra. Không có người lãnh đạo thì sẽ dẫn đến tình trạng hỗn độn, cá lớn nuốt cá bé. Chính vì thế sự hiện hữu của quyền bính là điều tất yếu cần thiết. Vị trí quan trọng và thiết yếu của quyền bính được nhìn nhận do bởi vai trò của nó. Quyền bính có ra là để gìn giữ xã hội ổn định trong trật tự, công bằng; xây dựng công ích; bảo vệ kẻ cô thân, yếu thế, người bất hạnh; tạo điều kiện cho mỗi người và mọi người hoàn cảnh thuận lợi để tồn tại, phát triển và nên hoàn thiện.
Theo viễn kiến này và dưới ánh sáng đức tin, chúng ta nhìn nhận rằng Thiên Chúa muốn có sự hiện hữu của quyền bính trong xã hội dân sự. Và sự hiện hữu của quyền bính là trong chương trình sáng tạo của Thiên Chúa, khi Người dựng nên nhân loại mang tính xã hội. Như thế chúng ta có thể nói không sợ sai lầm rằng quyền bính là một trong những công trình của Thiên Chúa, nghĩa là do Thiên Chúa làm nên.

Những gì của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa. Xêda là một hình thức quyền bính của xã hội dân sự thời phong kiến xưa. Xêda là hoàng đế của La mã hoặc bất cứ vị hoàng đế của nước nào cũng đều thuộc về Thiên Chúa. Ngày nay, Tổng thống, Thủ tướng, Bộ trưởng, Quốc Hội, Tòa án…cũng là quyền bính xã hội và chúng đều thuộc về Thiên Chúa. Vì thuộc về Thiên Chúa thì những người nắm giữ quyền bính ấy phải hành động theo thánh ý Thiên Chúa. Hoàng đế Kyrô khi ra sắc chỉ cho dân Do Thái bị lưu đày trước đây được hồi hương và tái thiết Đền thờ thì đã được ngôn sứ Isaia nhìn nhận như là người được Thiên Chúa tuyển chọn. Hoàng đế Kyrô còn được gọi là người được xức dầu vì ông đã thực thi thánh ý Thiên Chúa (x.Is 45,1).

Chúng ta cần phân biệt sự hiện hữu của quyền bính với người nắm quyền bính. Sự hiện hữu của quyền bính là chính đáng, hợp pháp và phải đạo vì do Thiên Chúa làm nên. Tuy nhiên không phải bất cứ ai nắm quyền bính cũng đều chính đáng, vì có thể họ chiếm lấy quyền bính cách không hợp pháp hoặc họ thực thi quyền bính cách không phải đạo. Lich sử minh chứng có trường hợp người ta đã chiếm lấy quyền bính cách “ma đạo” và hành quyền kiểu độc tài, phi nhân và phi luân. Như thế chúng ta cần phải phân biệt rạch ròi thực thể quyền bính với những người nắm quyền để khỏi nhầm lẫn.
Xét quyền bính như là một cơ cấu tổ chức điều hành một tập thể xã hội hay tôn giáo thì nó thật chính đáng và hợp lý. Tuy nhiên hình thức quyền bính này cũng cần phải được chỉnh sửa cho phù hợp với sự phát triển của con người và xã hội để phục vụ cách hữu hiệu ngày mỗi hơn. Chẳng hạn như cơ cấu quyền bính loại hình quân chủ chuyên chế không thể nào thích hợp với con người và xã hội hôm nay. Nhiều hình thái cơ cấu, tổ chức không chỉ cần phải được đổi mới mà thậm chí còn phải bị thay thế  bằng hình thái khác. Có thể nói rằng với đà phát triển của nhân loại như hôm nay thì những hình thái quyền bính mang tính độc tài, chuyên chế không còn lý do để hiện hữu.

Xét những con người nắm quyền bính thì trước hết chúng ta cần xem xét cách thức họ nắm giữ quyền hành có hợp pháp không, nghĩa là có minh bạch và công bằng không. Chúng ta dễ nhận ra cách thức xem ra được gọi là khá công bằng hiện nay để xây dựng công quyền đó là “phổ thông đầu phiếu”. Và dù được tổ chức bầu bán công khai thì cũng cần phải xét xem việc bầu bán ấy có tiến hành trong sự tự do và công bằng hay không. Thực tế đã có đó những cuộc bầu bán tuy là công khai những chỉ là một thứ hình thức hợp pháp hóa sự độc quyền, vì chưa bầu mà thiên hạ đã biết những ai sẽ đắc cử và sẽ đảm nhận vai vế gì trong hệ thống công quyền.

Kế đến chúng ta cần xem xét những người cho dù đảm nhận quyền bính cách hợp pháp và công minh nhưng họ có hành quyền cách công tâm và đúng mực không, dĩ nhiên là ở một mức độ nào đó khả dĩ có thể chấp nhận. Nếu đang nắm quyền mà không thực thi vai trò của quyền bính như đã nói trên, đó là xây dựng công ích, gìn giữ trật tự, bảo vệ người cô thế…,thì chắc chắn những người ấy đang đi ngoài đường lối của Thiên Chúa. Như thế họ không chỉ không đáng được tôn trọng mà thậm chí còn cần phải bị thay thế.
Giáo Hội không làm thay việc của Chính quyền. Đây là một lời khẳng định đúng. Thế nhưng cần hiểu hai từ Giáo Hội ở đây xét như là một thực thể tôn giáo mang tính xã hội có cơ cấu tổ chức và cả quyền bính. Còn những con người có tôn giáo thì chắc chắn phải thực thi nghĩa vụ “con người mang tính xã hội” của mình. Họ phải tích cực tham gia và xây dựng quyền bính xã hội để làm cho nó ngày càng thuộc về Thiên Chúa hơn, nghĩa là được vận hành cách chính đáng và phải đạo. Giáo hội Công giáo chỉ cấm hàng giáo sĩ và tu sĩ không được tham gia vào các chức vụ công quyền, trừ khi có lý do thật khẩn thiết và được ban phép (GL Đ.287.2 ; Đ.672). Còn với tín hữu giáo dân thì việc trực tiếp hay gián tiếp tham gia công quyền và xây dựng công quyền ngày càng trở thành “chính quyền” là một nghĩa vụ khẩn thiết, không thể xao nhãng hay bỏ qua vì bất cứ lý do gì.

“Của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa”. Có thể khẳng định rằng thể chế nào, nền công quyền nào hay người nắm quyền lực nào mà không “thuộc về Thiên Chúa” thì đang bị Thần dữ chi phối. Thần dữ vốn là tên sát nhân và là cha của sự gian dối thì “thành quả” của nó chính là sự chết chóc, bạo lực và hận thù (x.Ga 8,44). Chính vì thế để làm phát triển nền văn minh tình thương và sự sống thì mọi Kitô, dù là giáo dân, tu sĩ hay giáo sĩ, theo cách thế của mình, đều có bổn phận làm cho các cơ chế công quyền và những người nắm quyền “thuộc về Thiên Chúa”, nghĩa là hiện hữu, vận hành và thi hành quyền bính phù hợp với thánh ý Thiên Chúa. Để được vậy, thiết nghĩ không gì hơn chúng ta cần tích cực can đảm bảo vệ công lý và làm chứng cho sự thật trong tình yêu. Ủy Ban Công Lý và Hòa Bình thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đang có chương trình phổ biến và học tập “Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội Công Giáo”. Mong sao chương trình này không dừng lại ở phạm trù truyền đạt kiến thức mà được hiện thực hóa bằng việc làm cụ thể, rõ ràng.

Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

Ban Mê Thuột

 

 

CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN

25-10-2020

 

TUY HAI MÀ MỘT

Đâu đó bạn bè, những người không có đạo thường hỏi chúng ta rằng: cốt lõi của đạo Công Giáo là gì? hoặc điểm chính yếu nhất của đạo Công Giáo là gì? Đặt trường hợp, chúng ta được hỏi, liệu chúng ta có thể trả lời được chăng? hay chúng ta chỉ nhoẻn miệng cười trừ, rồi tạm biệt, hẹn ngày trở lại!!

Tin Mừng hôm nay, câu hỏi mà nhóm luật sĩ đặt ra cho Đức Giê-su cũng hóc búa chẳng kém. Tuy từ ngữ khác với câu chữ thời đại chúng ta, nhưng nhìn kỹ sẽ thấy nội dung không khác gì mấy, “Thưa Thầy, trong lề luật, giới răn nào trọng nhất?” (Mt 22, 36). Như chúng ta biết, toàn bộ lề luật Mô-sê và sách các Tiên tri (mà bây giờ chúng ta gọi là Kinh Thánh Cựu Ước) rất nhiều, đặc biệt lề luật của người Do Thái thời ấy thì vô vàn, tỉ mỉ đáng kinh ngạc. Cho nên những ai được gọi nhà thông luật hồi đó, quả thật cũng thuộc loại xuất chúng, không xem thường được!

Họ tưởng rằng, Đức Giê-su sẽ không trả lời được, nhưng ngờ đâu Ngài tóm tắt toàn bộ sách luật Do Thái chỉ bằng một câu ngắn gọn, đó là giới răn yêu thương: kính mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân. Tuy hai điều nhưng chỉ là một. Ngài trưng dẫn nguyên văn sách Cựu ước: “Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi” (x. Đnl 6, 5) và “ngươi hãy yêu thương kẻ khác như chính mình ngươi” (Lv 19, 18). Ngài quả quyết mạnh mẽ và rõ ràng: “Đó là giới răn thứ nhất và trọng nhất. Nhưng giới răn thứ hai cũng giống giới răn ấy…Toàn thể Lề luật và sách các Tiên tri đều tóm lại trong hai giới răn đó”  (x. Mt 22, 38-40). Nói cách khác, Đức Giê-su đặt tầm quan trọng của điều răn mến yêu tha nhân như tính hệ trọng của điều răn yêu mến Thiên Chúa. Và hai giới răn này không được tách rời. Nếu tách biệt, hoặc trọng một điều mà không thực hiện điều kia, thì chúng ta đang rơi vào những lời biện hộ như thường được nghe, được thấy diễn ra trong thực tế của đời sống hằng ngày.

Cụ thể không ít người Công Giáo nghĩ và sống: kính mến Chúa, được thể hiện qua việc đọc kinh, tham dự Thánh lễ, tích cực hăng hái trong công việc nhà xứ, nhưng lại không dễ tha thứ, thương yêu anh chị em mình. Nhiều người vào nhà thờ đọc kinh sốt sắng, to rõ ràng, nhưng khi bước ra khỏi nhà thờ, hoặc về nhà thì lại không dễ thương, nhẹ nhàng, đón nhận yêu mến anh chị em, dễ cáu gắt, để bụng, giận hờn ghen ghét, ganh tị, nuôi hận thù…, hoặc đối xứ không tốt với hàng xóm láng giềng, và thường nhận lại lời chê bai: ‘người có đạo mà sống tệ vậy à?!!!!’ Lắm lúc, chúng ta trung thành, nhiệt tâm với nhà Chúa, năng nỗ đọc kinh hằng ngày, tham gia các hội đoàn giáo xứ, nhưng mối tương quan với anh chị em lại chẳng được tốt, hoặc không mến yêu tha nhân. Ngược lại, nhiều lúc được hỏi: tại sao không đi lễ, không đọc kinh nguyện hằng ngày, thì lời biện hộ hay lí do hay được nhắc tới, là: ‘đạo tại tâm mà, cho nên khỏi phải đi lễ, đọc kinh, chỉ cần yêu thương người, sống tốt với người khác là đủ!’, hay tiêu cực hơn với lối suy nghĩ ‘những người đi lễ, đọc kinh đấy, nhưng vẫn chửi bới người khác, chẳng muốn hy sinh gì của mình để giúp đỡ tha nhân, cho nên tôi chẳng cần làm vậy, biết giúp đỡ người khác, làm việc từ thiện là tốt đẹp rồi!’.

Chẳng cần bàn luận nhiều, hai xu thướng trên đã và đang hiện hữu ngày càng rõ rệt nơi chúng ta. Nếu chúng ta cứ sống như vậy, thì chắc hẳn giới răn yêu thương bị chia cắt; đúng hơn, chúng ta chưa sống đúng điều răn bác ái mà Chúa dạy. Thật ra, khi chúng ta thật lòng kính mến Chúa với toàn bộ con người chúng ta, thì nhờ điều này mà chúng ta mở lòng đón nhận và yêu thương anh chị em như chính bản thân ta. Và ngược lại, mỗi lúc chúng ta làm việc bái ái, giúp đỡ, tha thứ, yêu mến anh chị em thật tình, thì chúng ta cũng đang nhận ra sự hiện diện của Chúa nơi họ và kính mến Chúa. Tuy nhiên, lắm lúc chúng ta yếu đuối, tội lỗi, sa ngã, không kiềm chế và xét mình mỗi ngày, thì bị rơi vào tình trạng như thể ‘lừa dối bản thân’ vì như lời của Thánh Gio-an viết: “nếu ai nói: tôi yêu mến Thiên Chúa, mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy…Ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình” (x. 1Ga 4, 20-1).

Chính vì vậy, nếu chúng ta thật sự yêu mến hết con người mình thì lòng mến đó sẽ được bộc lộ một cách cụ thể qua những hành động, thói quen tốt lành như: tham dự Thánh lễ, nguyện gẫm, chuyện trò, tâm sự với Chúa trong các buổi tĩnh tâm, những giờ học hỏi Lời Chúa, học giáo lý; nhất là để Chúa biến đổi bản thân, đón nhận Lời và Mình Máu Thánh nuôi dưỡng chúng ta, Ngài mở lòng, thúc giục chúng ta biết chấp nhận yêu thương anh chị em như chính mình, dám hy sinh thời gian, sức lực, tiền của, trí lực, tài năng để giúp đỡ tha nhân. Những ai dám nói mình tích cực làm việc bác ái, mà không bắt nguồn từ lòng mến Chúa, từ mối tương quan thân tình với Chúa, từ việc thực hành Lời Chúa, thì có lẽ đó chưa được gọi là việc bái ái, đó chỉ có thể là việc từ thiện như biết bao nhiêu tổ chức ngoài xã hội hoặc kể cả những ai không phải Công Giáo cũng đang nỗ lực thực hiện thôi. Thoạt tiên, chữ ‘công việc bác ái’ và ‘công việc từ thiện’ dường như giống nhau và không ít người Công Giáo nghĩ có thể hoán chuyển cho nhau. Tuy nhiên, nếu xét thật gần và kỹ lưỡng về nền tảng, động lực của nó, chúng ta sẽ thấy khác xa. Công việc từ thiện thì ai cũng làm được, miễn họ có lòng thương cảm, trắc ẩn, bất luận họ là Công Giáo hay không. Trong khi ấy, việc bác ái thật sự được xuất phát từ tình mến Thiên Chúa. Đúng hơn là, Thiên Chúa yêu thương chúng ta tha thiết, vô bờ bến, và chúng ta được cảm nhận tình yêu ấy, rồi nó khiến chúng ta kính mến Người như ‘tình yêu đáp đền tình yêu’, ‘con tim đến với con tim’. Mặc khác, tình Chúa dành cho chúng ta quá lớn, nên chúng ta cảm nhận tình yêu ấy đến độ chúng ta dám ra khỏi những gì an toàn, thoải mái của bản thân mà đến với anh chị em bằng nụ cười tươi, bằng ánh mắt yêu thương, bằng đôi tay mở rộng, bằng tâm hồn trong sáng, vị tha, bằng đôi chân tiến bước giúp đỡ tha nhân, cách riêng những ai bị gán cho vùng ‘ngoại vi’, bị loại bỏ, bị xa lánh…Nói một cách chính xác, lúc ấy, chúng ta đang sống giới răn yêu thương thật sự.

Lạy Chúa, ngay giờ đây, ngay khoảnh khắc này, chúng con quỳ trước Chúa, không phải để nài nỉ cầu xin, cho bằng dâng lời cảm tạ vì Chúa đã yêu thương con vô hạn, mặc dù lòng mến của chúng con với Chúa hữu hạn, và đôi lúc tính toán, đầy những điều khoản hay lời hứa suông. Nhưng thật hạnh phúc, nhờ tình Chúa, mà mỗi ngày chúng con cảm nghiệm và được yêu mến Ngài nhiều hơn, thật hơn, cũng như biết mến yêu anh chị em khác nữa.

 

‘Mến Chúa yêu người’ giới răn yêu thương

Tuy hai mà một, tuy một mà hai

Không thể tách rời, trung thành thực thi

Tương giao chặt chẽ, hoà quyện vào nhau

Như sắc không màu, như màu đa sắc

Hằng ngày cảm nhận, khoảnh khắc yêu thương. Amen!

Lm. Xuân Hy Vọng

 

CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN

02-08-2020

 

Các Con Hãy Cho Họ Ăn!

Khởi đầu bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy Chúa muốn tìm một nơi hoang vắng. Có thể Người muốn có thời gian thinh lặng trong cầu nguyện để ở với Cha và hồi tâm những sự việc đã xảy ra. Nhất là biến cố Gioan bị chặt đầu. Cái chết của Gioan là một điềm báo cho số phận của một ngôn sứ, mà Chúa Giê-su cũng không ngoại lệ. Cũng có thể Chúa muốn nghỉ ngơi đôi chút sau những ngày dài rao giảng Tin Mừng, chữa lành mọi kẻ ốm đau tật nguyền, cũng như xua trừ ma quỷ ra khỏi lòng con người.

Nhưng dự định của Chúa đã bị vỡ khi một đám rất đông dân chúng theo Người. Từ một nơi thanh vắng cô tịch trở nên một nơi đông đúc, chứa chan lòng thương xót, và rộn ràng sự sẻ chia. Nhìn thấy nhu cầu của dân chúng, Chúa chạnh lòng thương. Ngay lập tức, Người tiếp tục giảng dạy và chữa lành các bệnh nhân của họ. Ở điểm này, chúng ta có thể rút ra một bài học nào đó chăng? Khi thấy nhu cầu cấp bách cần giúp đỡ của người khác, chúng ta thường có thái độ thế nào? Anh chờ tôi chút nhé, tôi đi cầu nguyện trước đã. Xin lỗi anh, tới giờ tôi phải đi “đọc kinh” rồi. Để hôm khác lại tới nhé, hôm nay tôi bận lắm không giúp anh được. Nhà tôi vẫn còn túng thiếu, anh tìm người khác giúp nha… Rất nhiều lần chúng ta vịn lý do cá nhân mà quên thể hiện lòng thương xót như Chúa.

Việc thể hiện lòng thương xót có thể vượt quá sức của chúng ta. Như trong bài Tin Mừng, các tông đồ ngỡ ngàng và lo lắng vô cùng khi mà Chúa yêu cầu các ông hãy cho đám đông dân chúng trên 5000 người ăn, ở nơi hoang vắng này; trong khi các ông chỉ có vỏn vẹn năm chiếc bánh và hai con cá. Không ít lần chúng ta cảm thấy mình nhỏ bé và bất lực trước những đòi hỏi của Tin Mừng.

Nhưng nếu chúng ta tin tưởng nơi Chúa, dám can đảm đặt tất cả những gì chúng ta có vào tay Chúa, thì kết quả hoàn toàn vượt sức tưởng tượng của con người. Một chút hi sinh, một chút thiện chí, một chút chia sẻ, sẽ làm nên những điều kỳ diệu. Chúng ta để ý kỹ chi tiết hóa bánh ra nhiều trong Tin Mừng hôm nay. Chúa không biến năm cái bánh và hai con cá thành một núi bánh và một núi cá, để mọi người tha hồ đến lấy mà ăn. Phép lạ xảy ra khi các môn đệ đưa bánh và cá cho Chúa, Chúa tạ ơn rồi bẻ ra, và trao cho các môn đệ, các môn đệ lại bẻ ra rồi trao cho dân chúng. Chắc hẳn trong dân chúng, mọi người cũng làm y như vậy: tạ ơn, bẻ ra và trao cho nhau.

Bẻ ra và trao ban, không làm cho người ta trở nên nghèo đi. Nhưng ngược lại, chúng ta càng thêm phong phú và no đủ. Nghèo tiền nghèo bạc chứ đừng nghèo tình thương và lòng thương xót. Có tình, cuộc sống trở nên ý nghĩa. Có tình, cuộc sống bớt khổ đau. Phép lạ xảy ra cho những ai có tình và có niềm tin nơi Chúa. Hôm nay đây, Chúa Giê-su vẫn tiếp tục mời gọi chúng ta: Các con hãy cho họ ăn!

 

 

CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN

09-08-2020

 

Ngôn sứ Elia sống vào khoảng thế kỷ thứ 9 truớc Chúa Giêsu. Thời đó, Israel sau vua Solomon đã bị phân đôi thành 2 vuơng quốc: Israel ở phía Bắc và Juda ở phía Nam. Vương quốc Juda, có lẽ vì có Đền thờ tại Jerusalem trên phần đất mình, đã tuơng đối “giữ đạo” đuợc lâu hơn phía Bắc nơi các vua kể từ Jeroboam – vì muốn dân chúng khỏi huớng về Jerusalem – đã để cho tín nguỡng thờ các thổ thần Canaan phát triển. Vị ngôn sứ tên Elia (có nghĩa ‘Chúa của tôi là Yahweh’!) duới triều vua Ahab đứng lên thách thức đạo thần Baal đuợc hoàng hậu Jezebel (vốn là con gái của vua Sidon xứ Phoenicia) như chuyện thuật trong Sách Các Vua chương 17. Ông thắng cuộc, nhưng bị Jezebel cho quân truy sát nên phải chạy trốn lên núi Horeb ẩn trong hang, rồi gặp Chúa như đuợc kể trong Bài đọc 1 hôm nay. 

Bài Phúc âm theo Mátthêu hôm nay là nối tiếp theo chuyện Chúa hoá bánh ra nhiều nuôi năm ngàn nguời (Mt 14,13-21) Câu 22, “Chúa Giêsu bắt các môn đệ xuống thuyền đi qua bờ bên kia truớc, trong lúc Ngài giải tán đám đông” cho ta thấy là các môn đệ không muốn đi, không muốn rời đám đông mà chính Chúa phải làm công việc giải tán họ !  Điều này dễ hiểu, vì hẳn các ông đang say sưa trầm mình trong sự thán phục, tôn vinh của dân chúng – các ông mê mải “ăn theo” vinh quang đến từ một sự lạ không phải đến từ mình nhưng do Chúa làm ! Còn Chúa Giêsu thì không bị đám đông mê hoặc, Nguời đi lên núi (giống như Elia xưa) để cầu nguyện, tức là gặp gỡ Thiên Chúa của Người ! 

Con thuyền của các môn đệ trong đêm bị sóng đánh đưa ra xa bờ, nhưng chắc sóng gió trong lòng các ông do bực bội hờn dỗi vì bị “cắt cuộc vui sớm” có khi còn mạnh mẽ hơn ? Khoảng canh tư, tức sau 3 giờ sáng, nghĩa là khi màn đêm đã bắt đầu bớt đen, nguời ta đã có thể thấy lờ mờ những gì trên mặt nước, Chúa “thủy thượng phiêu” đến với gần thuyền nhưng những con mắt suốt đêm không ngủ đuợc của các ông đã mờ đi và không thể nhận ra Nguời. Các ông hoảng hốt, sợ hãi tuởng Chúa là Ma! Khi Chúa lên tiếng, “Thầy đây. Đừng sợ!” – các ông vẫn im tiếng chưa dám tin. Ngay ‘đại sư ca’ Phêrô, nguời từng nhanh nhẩu tuyên tín nhất nhóm, cũng bán tín bán nghi mà ra điều kiện, “Thưa nếu thật là Thầy thì xin cho con đi trên mặt nuớc…” Hàm ý rằng tôi chỉ tin Thầy nếu đuợc thầy cho khả năng làm sự lạ – như Thầy ! Có những nhà chú giải cho rằng Phêrô không nhìn vào Chúa mà lại nhìn xuống chân nên ông chìm, nhằm đưa ra bài học lthiêng liêng là chúng ta phải dán mắt vào Chúa chứ đừng quan tâm đến sức của chính mình, thì mọi sự sẽ…OK trong mọi hoàn cảnh ! Nhưng chính bản văn Phúc âm không nói Phêrô nhìn đâu cả mà bảo, “thấy gíó thổi thì ông đâm sợ”, rồi “khi bắt đầu chìm thì ông la lên Thưa Thầy, xin cứu con!” Chi tiết “Đức Giêsu liền đưa tay nắm lấy ông” cho thấy lúc ấy có lẽ ông đã đến sát bên Chúa rồi – chứ không phải ông còn ở xa và Chúa ‘vụt phi thân’ đến để cứu ông ! 

Trong cuộc đời môn đệ, có khi chúng ta gặp hoàn cảnh như Elia bị chống đối, truy bức – cần phải lui về nơi “núi thánh” để nghe lại tiếng Chúa; nhưng ngay cả khi đuợc tung hô vì thành công, vì vinh quang chúng ta cũng cần biết rút đi đúng lúc, ra ‘biển vắng’ để không ‘đánh mất chính mình’ ! 

Chúa có khi giống như tạm thời vắng mặt, nhưng thực sự Ngưòi không hề bỏ rơi chúng ta. Nguời sẽ lại đến với ta, có lúc trong tiếng gió hiu hiu nhè nhẹ (sau khi bão táp, động đất, hoả tai đã qua), có lúc ngay giữa sóng gió trên biển khi thuyền ta như đã mất lái và không biết sẽ trôi nổi về đâu. 

Nhưng ta phải có lòng tin, và biết kêu cầu lên Người !

Gioan X. Lộ

 

 

 

CHÚA NHẬT XX THƯỜNG NIÊN

16-08-2020

 

Lòng tin của người phụ nữ ngoại giáo

 Lòng tin của những người ngoại giáo được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong các sách tin mừng. Không khó để tìm những dịp Chúa công khai tán dương đức tin của những người mà dưới con mắt của người Do Thái thời bấy giờ được coi là “quân ngoại đạo”. Chúng ta có thể nêu một số trường hợp điển hình ở đây. Ví dụ, viên đại đội trưởng của thành Caphacnaum đã được Chúa khen rằng “Ngay cả trong dân Israel, tôi cũng không thấy một người nào có lòng tin mạnh như thế” (Lc 7,9). Chắc hẳn ai cũng nhớ dụ ngôn nổi tiếng mang tên Người Samari nhân hậu. Trong dụ ngôn này, Chúa cho thấy không phải người kinh sư hay ông biệt phái, mà chính người ngoại đạo Samaria đã cảm thương và giúp đỡ kẻ khốn cùng. Hay khi Chúa làm phép lạ chữa 10 người phong khỏi bệnh, Ngài đã phải não nề thốt lên “Chín người kia đâu ? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại đạo này” (Lc 17,17-18). Bài tin mừng mà chúng ta đọc hôm nay cũng thế, lại là một người ngoại đạo được Chúa tán dương vì lòng tin của bà ấy.

 Thánh Ma-thêu kể rằng khi Chúa Giêsu lui về miền Tia và Xi-đôn thì Ngài đã gặp người phụ nữ dân ngoại mà thánh sử gọi là người đàn bà Ca-na-an. Tia và Xi-đôn là vùng đất của người ngoại nên chuyện gặp một người phụ nữ ngoại giáo cũng là chuyện bình thường. Đoạn tin mừng mà chúng ta đọc hôm nay nằm ở chương 15 của tin mừng theo thánh Ma-thêu có nghĩa là Chúa Giêsu đã bắt đầu việc rao giảng tin mừng cũng đã khá lâu. Có nghĩa là danh tiếng của Chúa Giêsu đã được nhiều người biết đến. Vì thế người phụ nữ ca-na-an này đến kêu cầu với Chúa cũng là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, như đã đề cập bên trên, thái độ của Chúa Giêsu đối với người phụ nữ này hơi khó hiểu thậm chí gây sốc khi Ngài “ngó lơ” bà ta. Ngay cả khi các môn đệ nhắc Ngài về sự hiện diện của người phụ nữ Chúa Giêsu đã quả quyết “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Is-ra-en” (Mt 15,24). Có nghĩa là chuyện của người phụ nữ này không liên quan chi đến Thầy vì bà ta là dân ngoại. Đỉnh điểm của sự khó hiểu khi chúng ta nghe Chúa Giêsu đối thoại với bà: “không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con”. Dân Is-ra-el là con cái còn dân ngoại chỉ là chó? Đâu rồi hình ảnh dễ thương của Thầy Giêsu – Đấng luôn chạnh lòng thương trước nỗi đau của mọi người?

 Dựa theo mạch văn chúng ta có thể tin rằng việc Chúa Giêsu đối xử “lạnh nhạt” với người phụ nữ dân ngoại không phải vì Ngài ghét cái nguồn gốc dân ngoại của bà ấy. Đúng hơn, chúng ta có thể hiểu Chúa Giêsu muốn trao cho bà ấy một cơ hội để bày tỏ đức tin của mình. Việc so sánh người dân ngoại với chó là điều khá phổ biến trong xã hội Do Thái lúc bấy giờ. Người Do Thái còn kiêng cử giao tiếp với người ngoại để khỏi bị ô uế. Ở đây Chúa Giêsu đã không xua đuổi người phụ nữ ngoại đạo và còn đối thoại với bà cho thấy Ngài không có thái độ như những người cùng thời đối với người ngoại giáo. Chính thái độ “lạnh lùng” của Chúa Giêsu đã trao cho người phụ nữ này một cơ hội để khẳng định niềm tin của mình. Lời khen mà Chúa Giêsu dành cho bà không chỉ là lời khen suông mà còn đi kèm với câu khẳng định “bà muốn thế nào, sẽ được như vậy”. Đức tin của bà vào Chúa Giêsu đã mang lại cho bà điều bà mong muốn.

 Là những người tin Chúa, trong cuộc sống lắm lúc chúng ta được mời gọi để bày tỏ niềm tin của mình như người phụ nữ ngoại đạo trong bài tin mừng ngày hôm nay. Đó là những khi chúng ta tưởng chừng như Chúa làm ngơ, im lặng trước những gì chúng ta khẩn cầu. Đó là những lúc chúng ta tưởng rằng Chúa không hiểu hay không thông cảm được với những nỗi đau mà chúng ta đang chịu. Cần phải nhớ rằng một niềm tin không trải qua thử thách thì không thể lớn lên. Giống như những viên ngọc muốn tròn đầy phải được mài giũa, cây trái muốn tốt tươi phải được cắt tỉa. Lòng tin của chúng ta vào Chúa được làm cho lớn lên qua những đêm tăm tối của đức tin. Ước chi chúng ta biết kiên vững như người phụ nữ ngoại đạo này để rồi cũng giống như bà chúng ta vui mừng khi được nghe Chúa nói “lòng tin của con thật mạnh. Con muốn gì thì sẽ được như vậy” Amen

Linh mục Giuse Nguyễn Thanh Nhã SJ

 

CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN

23-08-2020

 

ƠN CHÚA VƯỢT TRÊN SỰ YẾU HÈN CON NGƯỜI

Kính thưa quý cộng đoàn Phụng vụ! Từ lúc Thánh lễ chung cử hành trở lại, nhiều người rất vui vì được tham dự trực tiếp dù phải tuân thủ các quy định phòng bệnh dịch cô-vi; và cũng không ít người vẫn phải tham dự Thánh lễ trực tuyến hằng tuần. Dù sao chăng nữa, Chúa vẫn luôn đồng hành với mỗi người chúng ta qua đời sống cầu nguyện, qua các biến cố cuộc sống hằng ngày, kể cả qua các gian nan vất vả cuộc đời.

Qua các bài đọc hôm nay, chúng ta có thể thấy rõ một điều: sự yếu hèn của Thánh Phê-rô ngày trước cũng là sự yếu hèn của chúng ta hôm nay. Vừa ngay khi được ơn tuyên xưng đức tin tại xứ Xê-da-rê Phi-líp-phê, Thánh Phê-rô đã quay sang cản ngăn ân sủng của đức tin. Hai chi tiết đối nghịch nhau: “Si-mon Phê-rô thưa rằng: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”” (x. Mt 16, 16) và ít phút sau đó, “Phê-rô kéo Người lại mà can gián rằng: “Lạy Thầy, xin Chúa giúp Thầy khỏi điều đó. Thầy chẳng phải như vậy đâu”” (x. Mt 16, 22). Chỉ ngay lúc tuyên xưng Chúa Giê-su là Con Thiên Chúa hằng sống, thì Thánh Phê-rô lại quay sang ngăn cản sứ mệnh cứu độ của Thầy mình. Và ngay sau đón nhận chương trình của Thiên Chúa qua việc tuyên tín nhờ sự mặc khải, thì quay sang suy tính dự định, và kế hoạch theo cách của con người như Chúa Giê-su đã trách Phê-rô “Hỡi Satan, hãy lui ra đàng sau Thầy, con làm cho Thầy vấp phạm, vì con chẳng hiểu biết những sự thuộc về Thiên Chúa, mà chỉ hiểu biết những sự thuộc về loài người” (x. Mt 16, 23). Trong đời sống hằng ngày, đặc biệt đời sống đức tin, lắm lúc chúng ta yếu hèn, lắm lúc chúng ta nghi ngờ Chúa ngay cả sau khi tuyên xưng đức tin của mình. Thậm chí, chúng ta vừa được lãnh nhận ơn hoà giải xong, thì trong tâm trí chúng ta lại tự hỏi: Chúa đã tha tội cho tôi chưa?, và lòng trở nên áy náy, muốn đi xưng tội với một cha khác. Nhiều lúc, trong giờ cầu nguyện, suy gẫm, đôi lần chúng ta không tín thác vào Chúa dù chỉ vụt qua tâm trí hoặc tư tưởng!

Thế nhưng, ơn Chúa lại cao trọng và vượt xa sự yếu đuối, hèn kém của chúng ta. Chúa biết rõ hơn ai hết, chúng ta là những con người mong manh, hay đổi thay, thất thường, dễ quy hướng về tội lỗi. Chính vì thấu hiểu chúng ta hơn cả bản thân chúng ta, nên mầu nhiệm Con Thiên Chúa nhập thế và nhập thể được diễn ra kỳ diệu, nhắc nhớ mỗi người chúng ta rằng: Thiên Chúa đã mặc lấy xác phàm, đã hạ mình tột cùng, đã hoá mình ra không, đã chịu hết mọi đau đớn, gian truân của kiếp người, để rồi mang con người trở về với tình trạng ân sủng ban đầu khi được Thiên Chúa tạo dựng. Chúa Giê-su biết rõ con người yếu đuối, kém cỏi của Phê-rô, nhưng vẫn đặt để ngài làm rường cột Hội Thánh của Người “Con là Đá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và cửa địa ngục sẽ không thắng được” (x. Mt 16, 18). Phê-rô chỉ là phiến đá nhỏ nhoi, hèn yếu, bất xứng, nhưng nhờ vào công trình xây dựng của Thầy Giê-su chí thánh – là phiến đá thợ xây loại bỏ trở nên tảng đá góc tường – mà Hội Thánh của Thiên Chúa được trường tồn! Hơn nữa, Chúa Giê-su còn giao chìa khoá Nước Trời, quyền phán quyết tối thượng cho Phê-rô như lời tiên tri I-sai-ah trong bài đọc I “Ta sẽ để chìa khoá nhà Đavít trên vai nó: nó sẽ mở cửa và không ai đóng lại được; nó đóng cửa lại và không ai mở ra được” (x. Is 22, 22); cụ thể hơn như lời Người phán: “Thầy sẽ trao cho con chìa khoá nước trời: sự gì con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc; và sự gì con cởi mở dưới đất, trên trời cũng cởi mở” (Mt 16, 19).

Chính vì ơn sủng Chúa cao vời, vượt xa sự bất xứng, tính yếu hèn của con người chúng ta, nên cách thức Thiên Chúa hoạt động, thực hiện chương trình của Người cũng trổi vượt như lời tiên tri I-sai-ah tuyên sấm “trời cao hơn đất chừng nào, thì đường lối của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy” (x. Is 55, 9). Con người chúng ta thường có những tiêu chí, tiêu chuẩn chọn nhân sự hay cộng tác viên làm việc với mình hoặc cho mình dựa trên trí tài đức. Tuy nhiên, cách thức Thiên Chúa trao sứ vụ cho một ai lại không dựa trên sự thành đạt, thành công, sự tài giỏi, tài năng, trí hiểu hay khôn ngoan thuần tuý của con người, mà hoàn toàn tuỳ thuộc vào yếu tố mà Thánh Phao-lô đã thốt lên trong thư gửi giáo đoàn Rô-ma “ôi thẳm sâu thay sự giàu có, thượng trí và thông biết của Thiên Chúa: sự phán quyết của Người làm sao hiểu được, và đường lối của Người làm sao dò được” (x. Rm 11, 33). Vì thế, mọi việc chúng ta sống – làm – đắc thủ đều “do Người, nhờ Người, và trong Người”, nói một cách rõ ràng hơn “muôn vật đều do Người mà có, nhờ Người tồn tại và quy hướng về Người” (Rm 11, 36). Do đó, cả cuộc đời của chúng ta, cả những ngày sống của chúng ta chỉ duy nhất tóm gọn nơi hai chữ tuy giản đơn nhưng ý nghĩa sâu thẳm, đó là ‘tạ ơn’, và tâm tình này được diễn tả một cách đầy đủ nhất trong Thánh lễ – nơi chính Chúa Giê-su vừa là chủ tế, vừa là của lễ hiến tế, vừa là bàn thờ thánh hiến dâng lên Thiên Chúa Cha lời tạ ơn một cách trọn vẹn, hoàn hảo nhất!

Giờ đây, chúng ta cùng dành ít phút thinh lặng trước nhan Thánh Chúa chẳng phải để cầu xin, mà chỉ ước ao dâng lên Người tấm lòng chân thành của một người con thơ:

Dù con yếu hèn đổi thay

Ơn Ngài trợ giúp chuyển lay tâm hồn

Dù con xao xuyến bồn chồn

Tình Ngài nuôi dưỡng, ôn tồn dìu đưa

Chọn con từ thuở ngàn xưa

Tuôn tràn ân sủng như mưa dạt dào. Amen!

Lm. Xuân Hy Vọng

 

CHÚA NHẬT XXII THƯỜNG NIÊN

30-08-2020

 

Lạy Chúa xin hãy dùng con, như khí cụ bình an của Chúa

Mến chúc anh chị em luôn Bình an và Thiện hảo.

Tạ ơn Chúa và cảm ơn mọi người về tất cả, cách riêng là cơ hội được cùng chia sẻ Lời Chúa hôm nay. Và như anh chị em cũng biết, con hiện nay đang ở và mục vụ nơi Vương cung Thánh đường Thánh Phanxico, Assisi vùng Umbria nước Ý. Giờ đây, xin được chia sẻ một vài cảm nhận từ các bài đọc hôm nay qua cuộc đời của Thánh Phanxico, dù vẫn biết là rất khó để diễn tả qua một vài phút ngắn ngủi.

Là người Công Giáo Việt Nam, chắc là không ai mà lại không biết bài hát Kinh Hòa Bình, lời cầu nguyện (theo tinh thần) của thánh Phanxico Assisi và được phổ nhạc bởi Linh mục Nhạc sĩ Kim Long.

 “Lạy Chúa từ nhân. Xin cho con

Biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người.

Lạy Chúa xin hãy dùng con, như khí cụ bình an của Chúa

Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh.

Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân.

Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ.

Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.

Ôi Thần Linh thánh ái xin mở rộng lòng con.

Xin thương ban xuống những ai lòng đầy thiện chí.

Ơn an bình.”

Anh chị em rất thân mến, khi có dịp đến viếng thăm Vương cung Thánh đường Thánh Phanxico – nơi có mộ của ngài ở Assisi, chúng ta sẻ thấy được nội dung của lời kinh này được thể hiện qua các bức bích họa nơi Nhà thờ hạ (Basilica Inferioe), bên trái là cuộc đời thánh Phanxico và bên phải là cuộc Khổ nạn và Phục sinh của Đức Ki-tô. Bắt đầu từ việc Thánh Phanxico cởi bỏ tất cả, trả lại cho người cha ruột của mình để đi theo Lời mời gọi của Chúa, và đối diện là hình ảnh Chúa Giê-su trước quan tòa Phi-la-tô, bị lột áo và lột bỏ sự tự biện hộ và chịu đánh đập kết án. …Và hai bức bích họa tả hữu cuối cùng là hình ảnh thánh Phanxico đón nhận “chị chết” và hình ảnh Phục sinh của Đức Ki-tô.

Thánh Phanxico vẫn thường được gọi là người giống Chúa Giê-su, và vượt qua giới hạn tôn giáo cùng những khác biệc, có thể nói ngài là một trong những vị thánh được nhiều người yêu mến nhất. Nhìn vào cuộc đời của thánh nhân, ta có thể thấy nỗi bật hai yếu tố đó chính là LẮNG NGHE lời mời gọi của Chúa và TỪ BỎ tất cả để chọn đi theo lời mời gọi đó. Để đi theo lời mời gọi từ Thập giá, ngài đã từ bỏ giấc mơ trở thành Hiệp sĩ với bao quyền lực và danh vọng. Không chỉ là tiền tài hay tương lai, để sống Ơn gọi là con của “Cha ở trên trời” ngài đã chọn cách từ bỏ người cha trần thế cùng những gì ngài được hưởng. Có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng, thánh Phanxico là người đã sống trọn lời mời gọi của Chúa Giê-su mà chúng ta vừa được nghe trong bài Tin Mừng hôm nay (Mt 16, 21-27). Để theo Chúa đã từ bỏ tất cả, vác thập giá, chấp nhận sự khinh bỉ sỉ nhục. Ngài đã chọn hy sinh mạng sống của bản thân để Chúa được sống trong ngài. Kết quả của chọn lựa đó đã giúp ngài luôn tràn ngận Bình an và Niềm vui, trở thành người anh em của hết mọi loài mọi vật và mọi thời. Vì Chúa và Tin Mừng thánh nhân đã chọn mất mạng sống, nhưng chính điều đó không chỉ đã giúp ngài được sống và còn được sống muôn đời, không những vậy sự sống của ngài đã, đang và vẫn hiện hiện, hướng dẫn mọi người trên trần gian này.

Anh chị em thân mến, nhưng đâu là nguyên nhân là động lực để thánh Phanxico có được chọn lựa đó. Chắc chắn phải có một xác tín lớn lao nào đó. Câu trả lời chúng ta có thể tìm thấy trong Bài đọc 1 hôm nay. “Lạy Chúa, Chúa đã khuyến dụ tôi, và Chúa đã khuyến dụ được tôi. Chúa đã hùng mạnh hơn tôi và thắng được tôi.” Trước khi đáp lại lời mời gọi từ Thánh giá ở Nhà nguyện Đamiano, thánh Phanxico đã được khuyến dụ ở Spoleto, khi ngài đang trên đường ra chiến trận, điều sẽ giúp ngài đạt được mơ ước trở thành hiệp sỹ. Tại Spoleto, một tiếng vọng huyền bí hỏi Phanxico:

  • Phanxico, con hãy trả lời ta. Con chờ mong ân huệ ai hơn? Ở một người làm chủ tất cả hay ở một kẻ chỉ vào hàng tôi tớ?
  • Thưa, dĩ nhiên là ở người làm chủ.
  • Vậy sao con lại đành theo chân kẻ làm tôi tớ chứ không theo chân người làm chủ mà trăm ngìn tôi tớ phải suy phục.
  • Lạy Chúa, con phải làm gì, xin Chúa truyền lệnh.
  • Phải làm gì? Thì con hãy trở về quê hương rồi sẽ rõ. Cứ trở về đi, con sẽ hiểu ý nghĩa cuộc ứng mộng đêm nay.

Chính việc mong muốn nhận ơn huệ từ “người làm chủ” mà thánh nhân đã chọn không “theo thói đời này, nhưng canh tân lòng trí, để biết đâu là thánh ý Chúa, biết điều gì tốt lành đẹp lòng Chúa và hoàn hảo”, “vì lượng từ bì Thiên Chúa” thánh nhân đã “hiến thân làm của lễ sống động và thánh thiện, đẹp lòng Thiên Chúa”, như những lời của thánh Phaolo Tông đồ trong Bài đọc 2.

Anh chị em thân mến, trong lời nguyện nhập lễ chúng ta đã xác tín “mọi sự tốt lành đều bởi Chúa mà ra”, ước gì xác tín đó không chỉ là trên môi miệng nhưng hằng mãi ghi khắc trong tâm can và được diễn tả một cách thiết thực trong mọi mặt của đời sống mỗi một người chúng ta. Nhờ vậy, như thánh Phanxico và cùng với ngài chúng ta không ngừng dâng lên Chúa lời cầu nguyện, lời nguyện mà chính thánh nhân vẫn hằng đọc trước Thánh giá.

Lạy Thiên Chúa tối cao và vinh hiển,

xin chiếu sáng cõi lòng tăm tối của con.

Xin ban cho con

đức tin ngay thẳng,

đức cậy vững vàng,

đức mến hoàn hảo,

cảm thức và hiểu biết,

để con thi hành

huấn lệnh thánh thiện và chân thật của Chúa.

Amen.

Fx Trần Văn Hoài, OFMConv.