Suy Niệm Lời Chúa-みことばの食卓

Tháng 9 năm 2022

 

CHÚA NHẬT XXIII THƯỜNG NIÊN

Ngày 04 tháng 9

 

Một nguời muốn xây dựng cái gì đó phải suy tính chi phí xem có đủ vốn liếng để hoàn tất không, một ông vua bị “vua lạ” khác tấn công phải cân nhắc xem nên hoà hay nên chiến căn cứ trên thực lực của mình – là hai ví dụ cụ thể của  đời sống thực mà ai nghe cũng hiểu đuợc, kể cả những nguời ‘không khôn ngoan’ (vì nguời thiếu khôn ngoan cũng biết tính, có điều là tính sai thôi!) Ở đời, ai mà chẳng tính toán khi lợi ích hay uớc muốn của mình đòi hỏi. Tuy nhiên, trên thực tế không ít truờng hợp nguời ta cũng làm liều kiểu “cứ làm đi rồi tới đâu hay tới đó”, hoặc cầu may vào vận đỏ của mình! Và cũng trong thực tế, không ít nguời chúng ta cũng dùng những lối ‘tính toán kiểu nguời đời’ hay ‘thói thế gian’ trong đời sống tâm linh tức là quan hệ đối với Thiên Chúa của mình!

Đoạn Phúc âm theo Thánh Luca trong Chương 14 hôm nay nối tiếp liền sau Dụ ngôn về Bữa Đại tiệc (Lc 14,15-24) trong đó, khi các khách đuợc mời truớc đều kiếm cớ thoái thác không đến dự, Ông Chủ mới sai gia nhân ra đuờng phố đưa hết nguời nghèo khổ, tàn tật vào tiệc. Nhưng ở đây, khi “có nhiều đám đông cùng đi với Chúa” (câu 25) thì Nguời lại 3 lần như muốn xua đuổi họ đi với 3 câu “Nếu ai không…thì không thể làm môn đệ Ta được”! 

Truớc hết, “ai không bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em, và cả mạng sống” (câu 26) Tiếp theo, “ai không vác thập giá mình” (câu 27) Và sau cùng, “ai không từ bỏ tất cả của cải” (câu 33) với hai ví dụ về ‘tính toán’ đuợc kẹp ở giữa (như 1 miếng sandwich!)  Phúc âm không ghi lại phản ứng của các đám đông khi nghe lời Chúa, nhưng có lẽ họ phải bỏ đi khá nhiều !

Theo Chúa, làm môn đệ của Nguời, không phải là chuyện đùa, chuyện “cứ thử cho vui”, không dành cho những kẻ yếu bóng vía!  Theo Chúa đòi hỏi những lựa chọn quyết liệt và toàn diện, phải từ bỏ, hy sinh không chừa một thứ gì – kể cả những gì lẽ ra là thân thiết nhất với mình. Trong khi đó, thuờng ta muốn đuợc cả chì lẫn chài, ‘bắt cá hai tay, chân còn khoèo thêm con tép”, có chăng là thỉnh thoảng bỏ đi chút đỉnh tiền của, chút xíu thời giờ đi lễ đi lạy rồi nghĩ thế là Chúa phải mắc nợ tôi! Khi đối diện với những đòi hỏi luân lý ta cũng có khuynh huớng dễ dãi với chính mình, tự biện hộ “con có phải là thánh đâu” hay “rồi Chúa cũng thuơng cũng tha mà!” Nói cách khác, rất thuờng chúng ta muốn là nguời Công giáo (chỉ cần chịu phép Rửa là thành), nhưng không hề thực sự muốn làm môn đệ của Chúa Kitô (phải bỏ mình triệt để và suốt đời không xong!) 

Xin Chúa thuơng xót chúng con! 

Gioan X Lộ


CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN

Ngày 11 tháng 9

HÃY CHUNG VUI VỚI TÔI

 Còn nhớ cách đây khoảng bảy hay tám năm gì đó, tôi có để quên một chiếc máy ảnh nơi ghế ngồi tại một khu vui chơi. Khi phát hiện ra không có chiếc máy ảnh bên mình và quay trở lại nơi mới ngồi trước đó để tìm thì không thấy đâu nữa. Lúc đó, trong lòng cảm thấy tiếc hùi hụi, không phải vì giá trị của cái máy, nhưng là những khoảnh khắc kỷ niệm được lưu lại trong chiếc máy ảnh đó. Thế là đành báo lại cho nhân viên của khu vui chơi và để lại địa chỉ, với chút hy vọng ai nhặt được thì sẽ trả lại cho mình. Nhưng thật lòng mà nói, cảm giác lúc bấy giờ là hy vọng đó cũng mong manh. Một tuần lễ sau, chiếc máy ảnh được gởi bằng bưu điện đến nhà dòng, với những lời lẽ rất lịch sự được viết trong lá thư gởi kèm. Chỉ có thể là Nhật bản! Khỏi phải nói, tôi rất vui mừng vì tưởng đã mất chiếc máy ảnh lẫn những tấm hình quý giá thì nay lại tìm thấy được. 

Trong cuộc sống, chắc hẳn chúng ta ít nhiều có kinh nghiệm bị thất lạc đồ đạc, hoặc mất đi một điều gì đó (ví dụ tình bạn, sự chung thủy, ấn tượng tốt đẹp…), hay mất đi một người nào đó. Nếu đồ vật thất lạc có giá trị càng cao hoặc có ý nghĩa quan trọng với ta thì ta càng tiếc nuối. Nếu điều ta bị mất (hoặc đánh mất) càng thiêng liêng, cao quý; nếu người ta bị mất đi có ảnh hưởng quan trọng và ta yêu mến thì ta càng đau khổ. Tuy nhiên, sau khi mất đi những thứ vừa kể trên, nếu có một ai tìm lại được cho ta, hoặc ta tự mình tìm lại được, ta sẽ cảm nhận được một niềm vui như vỡ òa, ngập tràn. Có được kinh nghiệm ấy, khi nghe (đọc) bài Tin Mừng rất quen thuộc hôm nay, chúng ta mới cảm nhận và hiểu được tâm tình Chúa Giê-su muốn nói qua ba dụ ngôn: “con chiên-đồng bạc bị mất” và được tìm lại, “người con hoang đàng” (hay vẫn thường được nói cách khác là “người cha nhân hậu”)

 Ba dụ ngôn cùng một chủ đề: mất-tìm thấy-vui mừng được Thánh sử Lu-ca xếp theo thứ tự là con chiên-đồng bạc-đứa con hoang đàng. Nếu để ý, ta sẽ thấy vài chi tiết khá thú vj và ý nghĩa khi Lu-ca xếp thứ tự như vậy. Tỷ lệ mất mát trong ba dụ ngôn được sắp xếp theo thứ tự tăng dần: 1/100 (1 con chiên bị mất trong đàn có 100 con), 1/10 (1 đồng bạc bị đánh rơi mất trong số 10 đồng của người đàn bà) và 1/2 (1 trong 2 đứa con bỏ nhà đi hoang). Hơn nữa, giá trị của những thứ bị mất cũng được xếp theo thứ tự tăng dần: một con vật-một đồng bạc-một đứa con. Cả ba dụ ngôn đều muốn nhấn đến dung mạo của một Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Ngài tha thiết tìm và cứu người tội lỗi. Khi cứu được họ Ngài rất vui mừng.

Tuy nhiên, chúng ta sẽ bắt đầu từ dụ ngôn đồng bạc trước. Đồng bạc (tiền của) là vật vô tri vô giác. Thế mà nhiều khi mất tiền, nhiều người cứ ngẩn ngơ tiếc xót. Chắc là vì “đồng tiền gắn liền khúc ruột”! Người đàn bà đánh mất một đồng bạc, có lẽ nó lăn vào nơi góc kẹt, hoặc dưới gầm giường, gầm chạn…Bà đốt đèn để đi tìm cho ra đồng bạc bị mất ấy. Tại sao không để đến sáng hôm sau hãy tìm, đằng nào nó cũng ở trong nhà, không chạy đi đâu mất? Bà không thể ngủ yên khi mất đồng bạc của mình. Bà quét nhà, xem kỹ lưỡng mọi nơi cho đến khi tìm thấy. Khi tìm được rồi thì vui mừng gọi láng giềng đến chung vui. Bình thường, chắc chẳng có ai làm như thế bao giờ!

 Dụ ngôn con chiên lạc nói về một người có một trăm con chiên nhưng bị lạc mất một con, đã để lại chín mươi chín con nơi hoang địa và đi tìm con chiên lạc. Khi tìm được rồi thì vác nó trên vai, trở về nhà, mời bạn hữu và những người lân cận mà nói rằng: “Anh em hãy chung vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy con chiên lạc!”. Người chăn chiên này đã làm một việc hết sức phiêu lưu và không hợp lý. Bởi lẽ nếu ông để chín mươi chín con nơi hoang địa mà đi tìm con chiên lạc, có thể chó sói sẽ đến và ăn thịt chín mươi chín con này. Tại sao ông lại đi tìm một con chiên và để lại chín mươi chín con? Con chiên đi lạc có thể là con yếu nhất đàn, hoặc bị thương tích nên đã không theo kịp đàn mà bị bỏ lại và lạc mất. Cũng có thể nó là do “ham vui”, mải mê gặm cỏ hoặc tự mình tách đàn ra đi mà quên lối về. Dù gì đi nữa, người chăn chiên biết rằng nếu nó chỉ có một mình thì nguy hiểm sẽ rình rập. Chín mươi chín con kia, dù sao cũng ở chung với đàn nên có thể ít nguy hiểm hơn một con bị lạc. Do đó, ông đã đi tìm con chiên lạc. Nhưng bình thường, chắc chẳng có ai làm như thế bao giờ!

 Đến dụ ngôn người con hoang đàng, khi đứa con đi hoang trở về, người cha nó đã thấy nó từ đàng xa, “ông chạy lại ôm choàng lấy cổ nó hồi lâu…” rồi bảo gia nhân đem áo mới mặc cho nó, đeo nhẫn, xỏ giầy cho nó, rồi lại còn giết bê béo ăn mừng. Nếu gia đình chúng ta có một đứa con giống như đứa con hoang đàng như trong dụ ngôn, liệu ta có hành xử như người cha trong câu chuyện không nhỉ? Bình thường, chắc chẳng có ai làm như thế bao giờ!

 Lý do duy nhất giải thích tại sao lại có cách hành xử “bình thường, chắc chẳng có ai làm như thế bao giờ” như trong cả ba dụ ngôn là vì niềm vui có được khi tìm lại những gì đã mất thì lớn hơn tất cả mọi sự khác. Và lý do Chúa Giê-su kể ba dụ ngôn này là vì những người biệt phái và luật sĩ lẩm bẩm khi thấy Ngài gần gũi, cùng ăn uống với những người tội lỗi, thu thuế. Ngài kể dụ ngôn và nói cho họ biết: “Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải” và Ngài mời họ cũng chung niềm vui ấy.

“Anh em hãy chia vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy con chiên lạc!”

“Chị em hãy vui mừng với tôi, vì tôi đã tìm được đồng bạc tôi đã mất”

“Nhưng phải ăn tiệc mừng, vì em con đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy’”

  Những người biệt phái và luật sĩ không thể cảm nhận được niềm vui mà Chúa Giê-su nói đến bởi họ tự cho mình là đạo đức, thánh thiện, và Nước Trời dành cho những người như họ. Họ tự tin cho rằng họ, chứ không phải những người thu thuế, gái điếm, bệnh tật, tội lỗi… là những người được Thiên Chúa ưu tiên thương xót. Họ quên rằng Thiên Chúa là Đấng giàu lòng xót thương. Ngài đã nhiều lần nguôi giận, không thực hiện điều Ngài đe dọa phạt dân, bởi tình thương của Ngài lớn hơn sự công bằng, và trái tim Ngài là trái tim thổn thức trước nỗi khốn khổ và lời cầu xin của dân Ngài, dù dân đó có cứng đầu cứng cổ, và nhiều lần phản bội lại Ngài. như chúng ta nghe trong bài đọc một hôm nay. Tình yêu và lòng thương xót ấy còn được biểu lộ cách tỏ tường và tuyệt đỉnh nhất nơi Người Con Một yêu dấu là chính Đức Giê-su Ki-tô. Trong bài đọc hai, Thánh Phao-lô qua kinh nghiệm của chính bản thân, đã xác tín rằng: “Ðức Giêsu Kitô đã đến trong thế gian này để cứu độ những người tội lỗi”.    

Anh cả ở trong nhà cha nhưng không là con, bởi anh không có cùng tâm tư và tấm lòng như cha. Anh tự xem mình như người làm công khi than phiền với cha đã không cho riêng con bê nhỏ để ăn với chúng bạn. Anh không vui nổi và không chịu vào nhà khi thấy cha mình yêu thương, tha thứ cho cậu em đi hoang trở về. Chúng ta chỉ có thể cảm nghiệm được Thiên Chúa khi có cùng nỗi lòng với Ngài, khi cùng chung vui với Ngài khi thấy một người anh chị em lỗi lầm quay trở lại nẻo chính đường ngay. Bao lâu còn giữ thái độ của người anh cả trong câu chuyện (và là thái độ của người biệt phái và luật sĩ), bấy lâu chúng ta còn cách xa tình Chúa, dù đôi khi ta đang ở trong chính nhà Ngài. Xin cho chúng ta có được tâm tình khiêm tốn để không cho mình là đạo đức, thánh thiện hơn người khác, nhưng can đảm nhận ra những yếu đuối của bản thân và vững tin vào tình thương của Chúa mà quay về chính lộ. Xin cho chúng ta cũng có được tấm lòng bao dung, để có thể chung niềm vui với Thiên Chúa khi mở lòng đón nhận những ai lầm lỗi trở về với gia đình, cộng đoàn. Hơn nữa, nếu có thể, chúng ta hãy cùng Ngài đi tìm những gì hư mất, để rồi đến lượt mình, có thể cảm nhận được niềm vui tuyệt vời và mời gọi người khác “Hãy chung vui với tôi”

Lm. Antôn Vũ Khánh Tường, SVD.

 

 

CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN

Ngày 25 tháng 9

 

NGƯỜI NGHÈO ‘HỮU DANH’, NGƯỜI GIÀU ‘VÔ DANH’

 

Trong thời đại hiện nay, giới giàu có, nổi tiếng thường được xướng tên (hữu danh), còn người nghèo thì ‘vô danh tiểu tốt’. Thế nhưng, trong Tin Mừng hôm nay, dụ ngôn ‘La-za-rô và ông phú hộ’, lại trái ngược: kẻ giàu có ‘vô danh’, còn người hành khất nghèo cùng đinh thì ‘hữu danh’ – La-za-rô (cũng nên biết nghĩa của hạn từ này trong tiếng Do Thái là: Thiên Chúa cứu giúp). Điều này cho chúng ta hiểu rõ hơn rằng: người nghèo, người bị loại ra bên lề xã hội, khách ngoại kiều được Thiên Chúa đoái trông cách đặc biệt.

Qua dụ ngôn ‘anh hành khất La-za-rô và ông phú hộ giàu có’, thiết nghĩ chúng ta phải khẳng định: Tin Mừng không đả kích người giàu có hay sự giàu có phong nhiêu, cũng không ‘cấp giấy thông hành’ cho người nghèo khổ vào Nước Trời, hoặc cứ sống nghèo khó đi thì sẽ được vào Thiên Đàng, còn nếu giàu có thì xuống hoả ngục đời đời kíp kíp!

Ông phú hộ giàu có chẳng được hưởng hạnh phúc Nước Trời, mà bị thiêu đốt dưới hỏa ngục, không phải vì ông ta giàu có. Đúng hơn, bởi lẽ ông dửng dưng, thờ ơ trước người hành khất La-za-rô “nằm bên cổng nhà ông” (x. Lc 16, 20), anh ta nghèo đến độ “chỉ có mấy con chó đến liếm ghẻ chốc”, và “ước được những mụn bánh từ bàn ăn rớt xuống, ăn cho đỡ đói” (x. Lc 16, 21) mà chẳng ai cho. Đâu phải vì ông không biết đến người hành khất La-za-rô, bởi chưng hằng ngày trước mắt ông, kẻ nghèo khó này nằm van nài, chỉ xin những mẫu bánh vụn rơi từ bàn ăn, mà theo lẽ thường, dành cho cún con; nhưng lối sống xa hoa, yến tiệc linh đình khiến ông ta chai sạn trước nỗi thiếu thốn của người hành khất La-za-rô. Cung cách giàu sang, lụa là gấm vóc khiến mắt ông đui mù trước sự thống khổ của đồng loại. Cuộc sống sung túc đưa ông tới thái độ ‘mackeno’ (mặc kệ nó), không hề mảy mảy quan tâm đến người nghèo khó La-za-rô. Chính những điều này lôi ông ta xuống hoả ngục, và đã tạo khoảng cách quá lớn ngay lúc còn sống trên dương gian, cũng như khoảng cách sâu thẳm, không thể nào kết nối, không thể nào thông giao ở đời sau: “Vả chăng, giữa các ngươi và chúng tôi đây đã có sẵn một vực thẳm, khiến những kẻ muốn từ đây qua đó, không thể qua được, cũng như không thể từ bên đó qua đây được” (Lc 16, 26).

Đến đây, chúng ta nhớ lại bài giảng của Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ lần đầu tiên vào ngày 2.10.1979, ngài khẳng khái: “Chúng ta không thể thờ ơ vui hưởng của cải và tự do của mình, nếu ở bất cứ đâu, người nghèo khó La-za-rô của thế kỷ XX vẫn còn đang đứng chờ chúng ta ngoài cửa…Các bạn đừng bao giờ bằng lòng với hành vi chỉ cho họ những mẩu bánh vụn nơi bàn tiệc. Các bạn chỉ nên lo đủ phần chính yếu của cuộc sống mà thôi, chứ đừng tìm cách sống cho sung túc dư dật, để nhờ đó các bạn có thể giúp đỡ những người nghèo khổ. Đồng thời, các bạn hãy đối xử với họ như những thực khách trong gia đình các bạn”. Thật vậy, thông điệp này còn vang vọng đến ngày nay trong thế kỷ XXI, thời đại bùng nổ, phát triển vượt bậc, nhưng tạo ra biết bao khoảng trống nội tâm, thái độ-lối sống dửng dưng, hờ hững trước đồng loại, bị cô lập, chông chênh giữa xa lộ công nghệ mang tên ‘kết nối’, nhưng thực chất nó đẩy con người xa nhau, rơi vào thế giới ‘ảo tưởng’ hơn là ‘tiếp xúc trực diện với anh chị em và thực tế cuộc sống’. Tuy nhiên, cũng nên nói tới đôi nét về anh hành khất La-za-rô, chẳng phải vì nghèo mà anh được vào Nước Trời đâu. Dẫu nghèo cùng đinh, chỉ có mấy chú chó lân la đến bầu bạn, liếm ghẻ chốc, nhưng anh sống yên lòng, chẳng ‘than thân trách phận’, phàn nàn, ca thán, trách móc, đổ lỗi cho trời, cho xã hội, cho người khác. Nhờ lối sống này, mà anh được vào hưởng hạnh phúc viên mãn như lời Tổ phụ Áp-ra-ham bộc bạch: “Hỡi con, suốt đời con, con được toàn sự lành, còn La-za-rô gặp toàn sự khốn khổ. Vậy bây giờ La-za-rô được an ủi ở chốn này, còn con thì chịu khốn khổ” (Lc 16, 25).

Vậy, đối diện với Lời Chúa hôm nay, chúng ta nên bắt đầu sống ra sao? Chúng ta phải sống giới răn yêu thương ‘mến Chúa, yêu người’ cách cụ thể. Thứ đến, quảng đại biết chia san với tha nhân dựa trên những gì mình có (không chỉ vật chất, tiền bạc, của cải, mà còn nụ cười, lời nói động viên, khuyến khích, thời gian, tài năng, khả năng, trí lực,…). Và để hân hoan thực hành những điều trên, chúng ta cần “chiến đấu trong cuộc chiến chính nghĩa của đức tin” (x. 1Tm 6, 12). Chẳng phải nổ súng, tấn công, giết kẻ thù, mà đúng hơn ‘chiến đấu với chính mình’, chiến đấu với thói quen xấu, chiến đấu với đam mê, chiến đấu với thái độ-lối sống dửng dưng, thờ ơ, chiến đấu với cách nhìn-nghĩ suy gây tổn hại đến bản thân cũng như tha nhân, v.v…Và trên hết, chúng ta hãy bắt đầu ngay bây giờ, khởi sự từ gia đình mình như Mẹ Thánh Tê-rê-sa Cal-cút-ta nhắn nhủ: “Tôi luôn nghĩ rằng tình thương phải bắt đầu từ gia đình mình trước, rồi đến khu xóm,…Yêu thương những ai ở xa thì rất ư dễ dàng, nhưng thương yêu những người đang sống với mình hoặc đang ở sát cửa nhà mình mới là khó…Tôi không bao giờ nhìn những đám đông như thể trách nhiệm của tôi. Tôi chỉ nhìn đến những cá nhân, bởi vì mỗi lần tôi chỉ yêu thương được một người, mỗi lần tôi chỉ nuôi được một người. Tôi đã đưa một người về nhà, nhưng nếu tôi không đưa một người ấy về nhà thì tôi đã không đưa 42.000 người về nhà. Toàn thể công việc của tôi chỉ là một giọt nước trong đại dương. Nhưng nếu tôi không góp một giọt nước ấy thì đại dương sẽ thiếu đi một giọt”.

Lm. Xuân Hy Vọng