Suy Niệm Lời Chúa-みことばの食卓

Tháng 5 năm 2022

 

 

 

SUY NIỆM LỜI CHÚA

CHÚA NHẬT III PHỤC SINH

Ngày 01 tháng 05

Bài Phúc âm hôm nay là phần chính của Chuơng 21, chuơng cuối cùng trong Phúc âm theo Thánh Gioan. Các nhà nghiên cứu Kinh thánh hiện đại đều cho rằng Phúc âm nguyên thủy của Gioan đã kết thúc ở chuơng 20 – sau khi Chúa phục sinh hiện ra với các Tông đồ lần thứ hai, có cả ông Tôma (lần đầu không có ông.) Chuơng 21 này đuợc thêm vào sau, có thể do chính tác giả thánh sử, hoặc cũng có thể do một môn đệ khác của ngài. 

Vì sao tác giả (hay môn đồ ) thấy cần phải bổ túc thêm chuơng này ? Nhiều lý do có thể đuợc suy đóan, nhưng tôi nghĩ một lý do quan trọng là có thể tác giả thấy đoạn kết cũ còn thiếu một cái gì đó – và cái thiếu đó chính là một BỮA ĂN giữa Đấng Phục sinh và các môn đệ của Nguời !

Gioan xác định rõ đây là lần thứ ba Chúa hiện ra với họ sau khi trỗi dậy từ cõi chết (Ga 21,1-14) nhưng ông không cho biết thời gian là bao lâu sau hai lần truớc. Tuy nhiên, Gioan nói lần này xảy ra ở Biển hồ Tibêria , có nghĩa là các môn đệ không còn ở Jerusalem nữa nhưng đã ‘về quê’ (cũng giống như hai môn đệ Emmaus vậy !) và như vậy, ta có thể đoán là một thời gian đáng kể đã trôi qua. Khi đó, dù đã đuợc gặp Đấng Phục sinh, họ vẫn ít nhiều hoang mang và chưa biết phải làm gì cả ! Họ quay lại với công việc quen thuộc từ truớc khi đi theo Chúa , là đánh cá – tuy có thể không phải là chủ ý trở về nghề cũ mà chỉ là làm tạm để “chờ thời” . Nhưng công việc cũ đã không có công hiệu gì, chỉ còn là ‘công cốc’, và trong bối cảnh đó, Chúa đến với các ông khi trời rạng đông – câu chuyện gợi lại nhiều kinh nghiệm các ông đã từng trải qua với Chúa , từ mẻ cá lạ lùng (x. Lc 5,4-11), chuyện Chúa đi trên mặt nuớc và Phêrô nhảy xuống nuớc (Mt 14, 22-33), đến hành vi Bẻ bánh trao cho các ông . 

Các môn đệ cần thời gian để Đức Tin vào Đấng Phục Sinh đuợc “nên trọn”, và Đức Tin đó lớn lên qua việc Hồi tuởng và Hiểu thấu hơn Ký ức các ông đã có về Nguời . Nếu Bữa Tiệc Vuợt Qua chiều thứ Năm Tuần thánh là Bữa Tối quan trọng nhất trong Lịch sử Cứu độ, thì bữa ăn sáng bên Biển Hồ Tiberiad hôm nay có thể gọi là Bữa Điểm Tâm vĩ đại nhất ! 

Sau bữa ăn sáng , Chúa có cuộc phỏng vấn đặc biệt với Phêrô, khi Nguời ba lần hỏi ông cùng một câu hỏi , “Anh có yêu mến Thầy không ?” Nguời hỏi ba lần, để cho ông cơ hội đảo lại ba lần đã phản bội, đã chối Nguời. Và đi theo ba lần ông tuyên xưng lòng mến của ông với Nguời, Chúa ba lần khẳng định vai trò Mục tử đầu đàn của ông cho đàn chiên của Chúa. Mỗi nguời chúng ta cũng đuợc ơn Chúa gọi đi theo Nguời, dù chúng ta có lẽ không đuợc giao phó những công việc trọng đại như Phêrô hay các vị Tông đồ. Nhưng dù ta chỉ cuơng vị nào, đuợc giao phó trách nhiệm gì, thì cuộc “phỏng vấn nhân sự” (JOB INTERVIEW) của Chúa với ta cũng giống như với Phêrô, “Tình yêu của con đối với Ta thế nào?” 

Lạy Chúa, tình yêu của chúng con đối với Chúa còn nhỏ bé lắm, và đầy khuyết điểm – xin Nguời đốt nóng và gia tăng tình yêu cho chúng con !

Gioan X Lộ

CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH

Ngày 08 tháng 05

 

Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi

Do Thái là một quốc gia có nhiều đồi núi, và vì người Do Thái là dân du mục nên họ thường chăn nuôi gia súc (chiên, cừu…) bằng cách dẫn đàn súc vật đi tìm nguồn nước và lương thực nơi các đồi núi, thảo nguyên. Người chăn chiên (Mục tử) và đàn chiên là hình ảnh rất thân quen với người Do Thái. Trong Kinh Thánh và trong lịch sử dân tộc, hình ảnh này cũng không có gì xa lạ vì các thủ lãnh, tổ phụ của dân tộc này, như Áp-ra-ham, Gia-cóp, Mô-sê, Đa-vít, hầu hết xuất thân từ nghề chăn chiên. Và trên hết, Thiên Chúa cũng được gọi là “Đấng chăn chiên nhà Ít-ra-en”, Ngài dẫn dắt dân như mục tử chăn dắt đàn chiên, chăm sóc bằng tình yêu và sự quan tâm, dẫn họ đến đồng cỏ xanh tươi và suối nước mát trong, như chúng ta vẫn thường hát Thánh Vịnh 23: “Chúa chăn nuôi tôi”… Đấng Cứu Thế cũng được các ngôn sứ loan báo như là một mục tử chăn dắt đoàn chiên Ít-ra-en. Như ngôn sứ Giê-rê-mia nói: “Chính Ta sẽ quy tụ đoàn chiên Ta còn sót lại từ khắp mọi miền Ta đã xua chúng đến. Ta sẽ đưa chúng về đồng cỏ của chúng; chúng sẽ sinh sôi nảy nở thật nhiều. Ta sẽ cho xuất hiện các mục tử để lãnh đạo chúng; họ sẽ chăn dắt chúng. Chúng sẽ không còn phải hãi hùng, kinh khiếp và bị bỏ rơi nữa” (Gr 23,3-4), và ngôn sứ Ê-dê-ki-en loan báo“Ta sẽ cho xuất hiện một mục tử để chăn dắt chúng; nó sẽ chăn dắt chúng, đó là Đa-vít, tôi tớ của Ta: chính nó sẽ chăn dắt chúng; chính nó sẽ là mục tử của chúng” (Ed 34,23)

 Trong Tin Mừng, Thánh sử Mác-cô đã có lần nói gần nói xa, ám chỉ Chúa Giê-su chính là Mục tử ấy, khi viết “Ra khỏi thuyền, Đức Giê-su thấy một đám người rất đông thì chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt. Và Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều.” (Mc 6,34). Nơi Tin Mừng của Thánh Gio-an, chính Chúa Giê-su đã xác nhận và công bố: “Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,11)

Chúa Nhật thứ tư mùa Phục Sinh được gọi là “Chúa Nhật Chúa Chiên Lành” vì Mẹ Giáo Hội cho chúng ta thấy hình ảnh Mục tử nhân lành Giê-su trong chương 10, Tin mừng theo Thánh Gio-an. Bốn câu trong bài Tin Mừng hôm nay kết thúc diễn từ về Mục tử nhân lành, giúp chúng ta hiểu sâu hơn ý nghĩa Kinh Thánh hình ảnh ấy.

“Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi”

Khi du học bên Mỹ cách đây ba năm, tôi được nghe kể một câu chuyện như sau: Một người Mỹ làm nghề kế toán viếng thăm Đất Thánh, rất ngạc nhiên khi thấy những người chăn chiên đang thả đàn chiên của mình ăn cỏ trên cánh đồng bát ngát mà không sử dụng bất cứ cái hàng rào nào, giống như cách của tổ tiên họ đã làm cách đây hai ngàn năm. Người Mỹ này nói chuyện với một người chăn chiên và đề nghị một cuộc cá cược: “Nếu tôi nói đúng được anh đang có bao nhiêu con chiên thì anh sẽ cho tôi một con. Còn ngược lại, nếu tôi nói sai thì tôi sẽ trả cho anh 300 đô-la nhé?” Vì cũng thích cá cược nên người chăn chiên đồng ý. Anh chàng kế toán nhanh chóng đếm nhẩm và nhớ trong đầu bằng cách chia đàn chiên thành từng nhóm nhỏ. Không mất nhiều thời gian, anh đã biết được có bao nhiêu con trong đàn. Anh nói với người chăn chiên: “Anh có tất cả 94 con”. Rất ngạc nhiên và thán phục khả năng của anh kế toán, người chăn chiên trả lời: “Đúng rồi. Anh đã thắng cuộc”. Thế là anh chàng kế toán người Mỹ quơ vội một con gần nhất anh ta và bắt đầu bước đi. Tuy nhiên, người chăn chiên nhìn chằm chằm vào anh người Mỹ và nói: “Khoan đã. Nếu tôi đoán được anh làm nghề gì thì anh phải trả lại tôi”. Anh kế toán vốn là con người sòng phẳng nên không ngần ngại, đồng ý ngay. Lúc này người chăn chiên nói: “Tôi nghĩ anh là một nhân viên kế toán, ngồi làm việc ở bàn giấy suốt cả ngày nên không có chút kinh nghiệm nào về động vật!” Bây giờ, đến lượt anh kế toán lộ nét mặt ngạc nhiên, thốt lên “Đúng rồi, nhưng làm sao anh biết được?” Người chăn chiên bình thản trả lời: “Được thôi, nhưng trước hết anh hãy đặt con chó của tôi xuống, rồi tôi sẽ nói cho anh biết”.

Trong câu chuyện trên, người kế toán không biết các con chiên trong đàn, thậm chí còn không phân biệt được con chiên và con chó! Lý do đơn giản bởi giữa anh ta và đàn chiên chẳng có một liên hệ nào. Người chăn chiên thì không như thế, anh đàn chiên biết nhau.

Mục tử nhân lành là mục tử biết mình có bao nhiêu con trong đàn và biết đặc điểm của từng con chiên của mình. Nếu nhìn chung một đàn chiên thì có thể chúng ta có cảm giác con nào cũng giống con nào. Nhưng sự thật là mỗi con chiên lại có một điểm riêng biệt. Mục tử nhân lành là mục tử biết cả “mùi chiên”. Còn các con chiên thì nghe và nhận ra tiếng của Mục tử, khác với những tiếng động khác, thậm chí chúng nhận ra được sự khác biệt tiếng của Mục tử của mình và tiếng Mục tử của đàn chiên khác.

“Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi” Chỉ trong một câu ngắn ngủi, chúng ta thấy rõ mối quan hệ mật thiết giữa Chúa Giê-su và những ai tin theo Ngài.

Có thể có người không đồng tình với cách Chúa Giê-su gọi bản thân Ngài là Mục tử nhân lành, vì những ai đi theo Ngài được gọi là con chiên. Như thế thật không tôn trọng phẩm giá con người chút nào! Tuy nhiên, tác giả Skip Heittzig trong một bài viết mang tựa đề “Mục tử tốt lành và đàn chiên hạnh phúc”, đã có câu trả lời, rằng: “Chúa gọi chúng ta là chiên vì Ngài biết bản chất của con người. Với bản năng thích hùa theo đám đông, sự sợ hãi và nhút nhát của chúng ta, sự bướng bỉnh và ngu dại của chúng ta và bản chất chống nghịch của chúng ta, chúng ta rất giống những con chiên, hơn nữa chiên không thể tự mình sống còn. Chúng đòi hỏi sự quan tâm thường trực, sự giải cứu và sự chăm sóc của người chăn, nếu không chúng sẽ chết”. Điểm quan trọng ở đây không phải chúng ta giống như những con chiên, nhưng đúng hơn, chúng ta có một Mục tử tuyệt vời”.

Hôm nay, tôi hãy để lòng mình lắng xuống trong tĩnh lặng và tự vấn lương tâm xem “Ai là người chăn dắt, kiểm soát cuộc đời của tôi?”, “Tôi có nghe thấy và biết tiếng của Mục tử tốt lành Giê-su, có đang đi theo tiếng ấy, hay là để cho những thứ tiếng khác kiểm soát, lèo lái cuộc đời của mình?”

“Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.”

Khi nói đến Chúa Giê-su là Mục tử nhân lành, chúng ta thường liên tưởng ngay đến hình ảnh thường được thấy nơi các hang toại đạo, đó là hình Mục tử vác con chiên trên vai, hoặc bế trên tay. Chúa Giê-su thật là Mục tử nhân lành, đầy lòng yêu thương, luôn chăm sóc dẫn dắt đàn chiên, đi tìm con chiên lạc khỏi đàn, được Thánh Lu-ca nói đến nơi dụ ngôn mục tử để 99 con chiên lại nơi đồng cỏ để đi tìm “con chiên bị mất” (Lc 15,4-7).

Tuy nhiên, cần biết rằng hình ảnh Mục tử mà Thánh Gio-an nói đến ở đây không mang dáng dấp của một Mục tử hiền dịu, nhẹ nhàng, đáng yêu. Chính Chúa Giê-su, Ngài cũng không tự giới thiệu về mình như một Mục tử chỉ yêu thương, trìu mến, chăm sóc những con chiên bị thương tích, nhưng là một Mục tử mạnh mẽ, cương quyết chiến đấu với thú dữ và kẻ cướp, như Đa-vít đã đuổi theo sư tử và gấu, thú dữ đã cắn xé đàn chiên của mình. Đa-vít đã hạ đo ván chúng và giật lại con chiên từ mõm sư tử (1Sm, 17,34-35) Chúa Giê-su là Mục tử nhân lành vì Ngài không ngần ngại chiến đấu để bảo vệ đàn chiên và hy sinh mạng sống cho đàn chiên. Ngài đã giành lại sự sống của chúng ta từ trong tay của Tử thần.

Chúa Giê-su hứa ban“sự sống đời đời”, nghĩa là Ngài hứa cho chúng ta được chung phần vào sự sống của Thiên Chúa khi họ tin nhận Ngài. Sự sống này không ai, cũng không có gì trên trần thế này có thể lấy mất, chiếm đoạt. Có thể chúng ta sẽ bị bách hại, bị tấn công, cầm tù… thậm chí bị giết chết đi nữa thì đó chỉ là cái chết về mặt thể lý mà thôi. Không ai có thể giết chết sự sống vĩnh cửu nơi chúng ta, bởi Mục tử nhân lành Giê-su đã ngang qua cái chết và chiến thắng tử thần, Phục sinh vinh quang. Ngài đã chế ngự sự chết bằng Sự Sống Lại và ban tặng Sự Sống này cho những ai tin và bước theo Ngài. Ngay cả khi còn sống nơi trần gian này, Sự Sống Đời Đời ấy đã được ban tặng cho chúng ta qua Bí tích Rửa tội và nhất là qua Thánh Thể, Thần lương nuôi sống, để ta không còn đói khát Sự Sống Thần linh của Thiên Chúa nữa, nhưng kết nối những suy nghĩ, hành động, lối sống của đời này với đời sau.

Chúa Giê-su hứa ban“sự sống an toàn” vì Ngài chính là Đấng ngày đêm canh giữ chúng ta khỏi mọi hiểm nguy. Điều đó không có nghĩa là khi làm chiên trong đàn chiên của Đức Giê-su, chúng ta được hưởng một cuộc sống êm ả, dễ chịu, là được yên ổn chẳng bị ai làm phiền, không bị đau buồn, khổ nạn và chết. Tuy nhiên trong giờ phút đau đớn và thử thách, hay trong những đêm tối của cuộc đời, ta vẫn có đôi cánh tay yêu thương của Mục tử nâng đỡ, bao bọc, chở che, để không ai có thể “cướp chiên ra khỏi vòng tay che chở của Ngài”.

Nhận ra rằng mình có một Mục tử nhân lành, biết rõ mình, sẵn sàng hy sinh mạng sống để bảo vệ sự an toàn cho mình, ban tặng cho mình Sự Sống Đời Đời như thế, có phải là hạnh phúc lớn nhất của cuộc đời chúng ta hay chăng? Và bằng cách này, cách khác, mỗi người chúng ta cũng được mời để trở nên mục tử nhân lành như Ngài, cho anh chị em của mình, nhất là cho những người mà chúng ta có bổn phận chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và bảo vệ.

Lm. Antôn Vũ Khánh Tường, SVD.

 

CHÚA NHẬT V PHỤC SINH

Ngày 15 tháng 05

 

Điều Răn Mới

Nhiều dân tộc trên thế giới có tục lệ để lại di chúc cho con cái. Khi người cha trong gia đình khi sắp qua đời hay tại một thời điểm quan trọng nào đó trong cuộc sống, ông viết di chúc để lại cho con cái của mình. Di chúc là điều linh thiêng đối với gia đình nên mọi thành viên trong gia đình thường cố gắng hết sức để hoàn thành di nguyện của cha ông mình.

      Bài tin mừng hôm nay cho chúng ta thấy Chúa Giêsu cũng để lại cho chúng ta một di chúc. Từ chương 13 của tin mừng Gioan, Chúa Giêsu bắt đầu nói về việc Ngài phải rời xa các môn đệ để về cùng Chúa Cha (Ga13,1). Chính trong bối cảnh chia ly này Chúa Giêsu đã để lại cho các môn đệ của Ngài một di chúc quan trọng đó là “điều răn yêu thương” (Ga13,34). Chính trong bối cảnh tang thương này cho chúng ta thấy di chúc của thầy Giêsu không đơn thuần là một lời khuyên mà là một mệnh lệnh.

“Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga13,35).

Di chúc của thầy Giêsu chỉ tóm tắt trong một vài từ hết sức đơn giản nhưng chưa bao giờ thôi là một thách đố lớn cho những kẻ theo Ngài. Là người Ki-tô hữu, chắc hẳn không ai không biết điều răn quan trọng nhất trong đạo là mến Chúa và yêu người. Tuy nhiên, để mang điều này ra thực hành quả là không đơn giản chút nào. Làm sao có thể yêu được một người mà tôi cảm thấy không có cảm tình? Khó hơn nữa là làm sao để yêu được kẻ thù như điều mà Thầy Giêsu ao ước các môn đệ mình làm (Mt5, 43)? Có lẽ chúng ta không có quá nhiều kẻ thù theo nghĩa hẹp của từ này. Tuy nhiên, làm sao mà tránh khỏi có những người mà tôi không ưa được? Làm sao để yêu người nào đó mà chỉ cần nhìn thấy, nghe giọng thôi là tôi đã không chịu nổi? Khó hơn nữa là yêu thương người nào đó đã gây thiệt hại cho tôi về vật chất tổn thương về tinh thần?

Để trả lời cho những câu hỏi này không phải là điều đơn giản. Tuy nhiên, có lẽ điều cần làm là thái độ chấp nhận chúng ta khá hẹp hòi, con tim của chúng ta không rộng đủ để yêu như thầy Giêsu đã dạy. Chấp nhận như thế không phải để rồi buông xuôi mà là để cậy nhờ vào ơn Chúa giúp. Phải chân nhận rằng chúng ta không thể yêu ai cả nếu không có ơn Chúa. Chính nhờ có ơn Chúa mà chúng ta mới có thể dám bước ra khỏi cái tôi chật hẹp của mình để bước vào thế giới của tình yêu. Thêm vào đó, có lẽ phương thuốc hữu hiệu để chữa căn bệnh “khó yêu” của chúng ta đó là chiêm ngắm tình yêu Chúa dành cho chúng ta. Cảm nghiệm tình yêu mà Chúa dành cho chúng ta là cách tốt nhất để chúng ta có thể yêu đồng loại. Hãy suy nghĩ xem Chúa đã yêu tôi như thế nào cho dầu tôi vẫn không ngừng quay lưng lại với Ngài? Hãy nghiệm xem cho dầu tôi xúc phạm tới Chúa bao nhiêu lần nhưng Ngài vẫn không ngừng yêu thương tôi? Nếu tôi cảm nghiệm được tình yêu Chúa, sự tha thứ của Ngài dành cho tôi, chắc chắn tôi sẽ đủ can đảm để bỏ qua cho người nào đó đã xúc phạm đến tôi.

Di chúc của thầy Giêsu đã hơn 2000 tuổi rồi nhưng các môn đệ của Ngài qua nhiều thế hệ vẫn còn loay hoay tìm cách thực hiện. Có lẽ chưa có ai dám vỗ ngực xưng tên rằng mình đang sống hết sức trung thành với di chúc của Chúa Giêsu. Chúng ta mãi mãi là những học trò không đủ điểm để tốt nghiệp cho môn học tình yêu. Tuy nhiên, dù là những học sinh kém đi nữa nhưng nếu chúng ta cố gắng từng ngày với sự trợ giúp của Ơn Chúa, chắc chắn vị giáo sư vĩ đại Giêsu sẽ làm cho chúng ta trở nên như Ngài: dám sống và dám chết vì yêu.

Joseph Nhã SJ

CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH

Ngày 22 tháng 05

 

THÁNH THẦN HOẠT ĐỘNG

Là người Công giáo, từ thuở nhỏ, chúng ta được học giáo lý về Một Chúa Ba Ngôi. Tuy chưa hiểu thấu bởi lẽ đây là Mầu nhiệm cao trọng nhất, nhưng chúng ta cảm nhận Mầu nhiệm này hằng ngày, cụ thể mỗi lần làm dấu Thánh giá. Hơn thế, chúng ta được học biết về Chúa Giê-su, và nhờ Ngài, chúng ta nhận biết Chúa Cha và Chúa Thánh Thần.

Nhưng khi mỗi lần được hỏi về Chúa Thánh Thần, chúng ta dường như chưa biết gì về Ngài, và cách Ngài hoạt động, hướng dẫn chúng ta ra sao! Có lẽ chúng ta biết Chúa Cha nhiều hơn Chúa Thánh Thần, vì Đức Giê-su đã từng xác quyết với các Tông đồ: “Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha của Thầy…Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (x. Ga 14, 7. 9)!

Kính thưa cộng đoàn Phụng vụ! Trong đoạn Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su mạc khải cho chúng ta biết về Chúa Thánh Thần, mà Ngài được gọi là ‘Đấng Bảo Trợ’ (Ga 14, 16. 26), và là ‘Thần Khí sự thật’ (Ga 14, 17). Chúa Thánh Thần được Chúa Cha sai đến nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, ngõ hầu “dạy các con mọi điều và và sẽ nhắc nhở cho các con tất cả những gì Thầy đã nói với các con” (Ga 14, 26). Thật vậy, Chúa Thánh Thần được sai đến để bảo trợ, nâng đỡ, hướng dẫn, dạy dỗ, nhắc nhở chúng ta tất cả những gì Đức Giê-su đã nói và làm; chứ chẳng phải Ngài tự đến, dạy và thực hiện mọi điều khác biệt với giáo huấn của Đức Giê-su Ki-tô.

Chính vì vậy, khi đối diện với thực tế: rất nhiều giáo phái tự cho mình nhận lãnh giáo thuyết, giáo lý từ Thánh Thần, nhưng chúng hoàn toàn khác xa, hoặc tệ hơn trái ngược với những gì Đức Giê-su Ki-tô dạy. Và thật buồn thay, nhiều người Công giáo cũng chạy theo họ học đủ thứ giáo thuyết khác biệt với các giáo huấn của Đức Giê-su! Điều này không những chỉ xảy ra trong thời đại này, mà nó đã từng diễn ra nơi Giáo hội sơ khai như Sách Tông đồ Công vụ thuật lại: “…có mấy người từ Giu-đê-a đến dạy bảo các anh em rằng: “Nếu anh em không chịu cắt bì theo luật Mô-sê, thì không được cứu độ” (Cv 15, 1). Trước tình huống ấy, Thánh Phao-lô cùng với Bar-na-ba, Giu-đa được gọi là Bar-sa-ba, và Si-la đã cảnh tỉnh, sửa dạy họ theo đường lối của Thầy chí thánh Giê-su: “… Thánh Thần và chúng tôi xét rằng không nên đặt thêm cho anh em gánh nặng nào khác ngoài mấy điều cần kíp…” (Cv 15, 28). Rõ ràng, Chúa Thánh Thần hoạt động như Đức Giê-su đã mạc khải cho các Tông đồ lúc Ngài còn ở với họ, đó là: dạy bảo và nhắc nhở mọi điều Thầy Giê-su đã thông truyền.

Hơn nữa, Chúa Thánh Thần khơi dậy lửa nhiệt huyết, giúp chúng ta hồi tưởng, nhớ lại, thông hiểu mọi điều Đức Giê-su đã truyền dạy, nhất là việc thực hiện giới răn yêu thương, tuân giữ Lời Chúa: “Ai yêu mến Thầy, sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy” (Ga 14, 23). Đây chính là niềm vui khôn tả dành cho những ai biết sống kết hợp thân mật với Chúa không phải qua lời nói suông, mà dám dấn thân tiến bước trên con đường yêu thương – tha thứ – thực hành Lời Chúa hằng ngày. Cao quý hơn, Chúa Ba Ngôi sẽ rất đỗi hài lòng, ngự đến và lưu lại nơi người ấy, kết hiệp mật thiết với người ấy, vì chưng cụm từ viết in hoa “…và Chúng Ta…” (x. Ga 14, 23) diễn tả đến số nhiều (Ba Ngôi) nhưng là một (Một Chúa). Vì thế, tất cả mọi điều Đức Giê-su truyền dạy cho chúng ta, đặc biệt giới răn yêu thương, không đơn thuần là một lựa chọn (làm cũng được, mà không làm cũng chẳng sao!); nhưng thiết nghĩ, không phải vậy, chính xác hơn là ơn gọi – sứ vụ của mỗi người Ki-tô hữu (những ai thuộc về Chúa Ki-tô, những ai tin và sống như Chúa Ki-tô). Tuy nhiên, làm sao chúng ta có thể hiểu và xác tín được điều này? Xin thưa: nhờ vào sự nhắc nhở, soi sáng, dạy bảo, hướng dẫn, thúc giục của Chúa Thánh Thần. Ước gì chúng ta trở nên tinh tế, nhạy cảm hơn với cách hoạt động của Ngài trong đời sống thường nhật, ngõ hầu can đảm dám sống bác ái, làm việc bác ái, lan toả lối sống bác ái, chứ không chỉ dừng lại ở mức độ hoạt động từ thiện mà thôi!

Sau cùng, Chúa Thánh Thần là Đấng xây dựng công cuộc hiệp thông giữa các tín hữu, kiến tạo tình hiệp nhất bền vững trong cộng đoàn. Ở đây, chúng ta có thể tự hỏi: Làm sao sống tinh thần hiệp nhất, nếu chúng ta không có sự bình an của Chúa Ki-tô Phục Sinh “Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con. Thầy ban cho các con không như thế gian ban tặng. Lòng các con đừng xao xuyến và đừng sợ hãi” (Ga 14, 27)? Làm sao có thể sống hiệp thông, nếu chúng ta chẳng hiệp hành cùng nhau dưới sự hướng dẫn của Thần Khí chân lý (Chúa Thánh Thần)? Chúng ta biết rõ rằng: Ngài không bao giờ dạy những gì khác ngoài mọi điều Đức Giê-su thông truyền. Cho nên, nếu trong một cộng đoàn xảy ra mâu thuẫn, bất hoà, và ai cũng tự vỗ ngực xưng mình hoặc đoàn thể mình được ơn Chúa Thánh Thần, thì chắc chắn cá nhân ấy hoặc hội đoàn ấy đang đi theo cách thức của riêng mình, chứ chẳng phải bước theo con đường hiệp nhất mà Chúa Thánh Thần thúc đẩy và gắn kết. Vì chưng, Ngài không bao giờ là nhân tố gây chia rẽ, cạnh tranh nhằm loại bỏ, ‘thêm dầu vào lửa’, mà đúng hơn, Ngài là Đấng kiến tạo sự hiệp thông, đỡ nâng các tâm hồn, ‘đốt lửa tình mến’ nơi mỗi người chúng ta.

Nguyện cầu:

Tạ ơn Con Chúa Phục Sinh

Nhờ Người chiến thắng hiển vinh khải hoàn.

Giờ đây hứa ban Thánh Thần

Dìu đưa, nhắc nhở muôn lần con thơ,

Xin cho con hằng đơn sơ

Chú tâm cất bước, tin thờ, hiệp thông.

Làm việc bác ái, cậy trông

Hiệp hành kiễn vững, cõi lòng khoan nhân. Amen!

Lm. Xuân Hy Vọng

 

CHÚA NHẬT LỄ CHÚA THĂNG THIÊN

Ngày 29 tháng 05

 

Xin cho tất cả nên MỘT …

Nguyện chúc Bình an và Niềm vui của Đức Ki-tô Phục Sinh ở cùng quý ông bà và anh chị em.

Nhiều nơi trên thế giới vì lý do mục vụ nên sẽ cử hành Lễ trọng LỄ ĐỨC CHÚA GIÊSU LÊN TRỜI vào Chúa nhật hôm nay thay vì vào thứ Năm vừa rồi, tức 40 ngày sau lễ Chúa Phục Sinh. Tuy vậy, theo lịch phụng vụ, hôm nay Giáo hội cử hành lễ Chúa Nhật 7 Phục Sinh. Bài chia sẻ này xin được dựa theo bài Tin Mừng của Chúa Nhật 7 Phục Sinh.

Tin Mừng của Chúa Nhật hôm nay được trích từ Tin mừng theo thánh Gioan 17:20-26, là phần cuối “Lời nguyện cho linh mục” của Chúa Giê-su. Xin cho tất cả nên MỘT – HIỆP NHẤT, đây là tâm nguyện lớn nhất của Chúa Giê-su đối với các môn đệ. Không chỉ cầu cho các môn đệ, “nhưng còn cho tất cả những kẻ nhờ lời chúng mà tin vào Con, để mọi người nên một cũng như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, để cả chúng cũng nên một trong Ta, để thế gian tin rằng Cha đã sai Con”. Cùng với Giáo hội hoàn vũ; Giáo đoàn Công giáo Việt Nam tại Nhật, mỗi cộng đoàn, mỗi gia đình, và mỗi một người chúng ta được mời gọi trở nên những chứng tá trong việc sống và loan báo Tin Mừng. Nhưng làm sao có thể trở thành chứng tá nếu thiếu sự hiệp nhất, bởi “”Nước nào tự chia rẽ, sẽ diệt vong, và nhà cửa sẽ sụp đổ chồng chất lên nhau”(Lc 11, 17).

Chúng ta đang chứng kiến, nói đúng hơn là đang sống trong một thế giới đầy dẫy những lo âu và chiến tranh. Từ những lo âu riêng tư về cơm áo gạo tiền đến những lo âu không của riêng ai như nạn dịch hay sự biến đổi khí hậu môi trường sinh thái. Từ cuộc xâm chiếm của Nga đối với Ukraine ai ai cũng thấy cho đến những tranh giành ngay chính từ những thành viên trong gia đình với nhau. Có lẽ không ít người trong chúng ta vẫn tự cảm thấy bản thân đủ thánh thiện và chắc chắn sẽ không có hành động xâm chiếm như Putin đang làm với con người và đất nước Ukcraine. Nhưng nếu dành chút thời gian nhìn lại, biết đâu đó chúng ta đã và vẫn đang dùng lời nói, thái độ hay hành động để tấn công những ai không theo ý chúng ta. Mức độ tuy khác nhau, nhưng bản chất sự việc không khác gì hành động của Putin. Và sự việc không chỉ đối với người ngoài, ngược lại nhiều khi ngay chính trong gia đình người thân; giữa cha mẹ với con cái, giữa vợ chồng với nhau, hay giữa những anh chị em ruột thịt.

Với Giáo đoàn Công giáo Việt Nam tại Nhật của chúng ta, chúng ta tạ ơn Chúa và cảm ơn nhau về sự tăng trưởng cả về con số và chất lượng tổ chức vận hành. Nhưng chúng ta cũng không khó để nhìn thấy những chia rẽ, bất nhất và thiếu sự cộng tác. Nguy hiểm hơn, sự bất nhất và thiếu cộng tác lại xuất phát từ chính các Linh mục Tu sĩ, những người được mời gọi sống “với giáo dân và cho giáo dân” nhiều lúc vô tình hay thiếu kiên nhẫn đã chọn cách sống xa giáo dân và gây khó xử cho giáo dân.

Hôm nay cũng là ngày cầu nguyện cho thế giới Truyền thông Xã hội. “Lắng nghe” là Chủ đề là lời mời gọi xuyên suốt trong Sứ điệp của Đức Thánh Cha Phanxicô cho Ngày Thế giới Truyền thông xã hội năm 2022 này. Ngài mời gọi chúng ta, lắng nghe để đối thoại chứ không là nghe lén và nói xấu. Không là lắng nghe theo ý riêng, nhưng là “Lắng nghe nhau trong Giáo hội”. Và luôn luôn “Lắng nghe bằng con tim”. Như chúng ta đã biết, nghe trong tiếng Nhật đọc là きく, là 聞く nhưng cũng là 聴く. Ước gì chúng ta luôn biếng lắng nghe với con tim, như chúng ta vẫn thường mong muốn ai đó nghe mình. Mỗi khi thuyết trình chúng ta vẫn thường nói ご清聴ありがとうございました。Và ước gì chúng ta luôn lắng nghe như vị Linh mục khi nghe cáo giải聴罪司祭(ちょうざいしさい)nghe với cả con tim, nghe với Lòng Thương Xót của Thiên Chúa chứ không phải theo ý riêng.

Nhờ sự chuyển cầu của Mẹ Maria, và cùng với Mẹ ước gì chúng ta luôn mở lòng lắng nghe và đón nhận lời mời gọi của Thiên Chúa, luôn quan tâm lắng nghe và đáp lại lời mời gọi giúp đỡ của tha nhân. Amen.