Suy Niệm Lời Chúa-みことばの食卓

CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN

NGÀY 04 THÁNG 7

 

Bài đọc: Ez 2,2-5; 2 Cr 12,7-10; Mc 6,1-6

“Không có ngôn sứ nào không bị rẻ rúng nơi quê huơng mình…”, lời than của Chúa Giêsu trong đoạn Phúc âm hôm nay, hay gợi nguời ta nhớ đến câu “Familiarity breeds contempt” (Quen quá sinh lờn) trong tiếng Anh, hay câu “Gần chùa gọi Bụt bằng anh” của ta. Nguời trẻ bây giờ có từ “Dìm hàng”, và chúng ta rất thuờng nghe những lời như, “Ôi tuởng ai chứ thằng đó hả? Hồi nhỏ nó trong xóm tao, tao biết nó quá mà…” ai đó dùng để nói về một ai khác nay thành danh, nổi tiếng ! Đó là một nét tâm lý rất thông thuờng của con nguời , nhưng đồng thời nguời ta cũng vẫn tự hào ‘ăn theo’ những nguời cùng quê mà nay danh giá, thành đạt (nên mới có những chuyện Vinh quy bái tổ, áo gấm về làng v.v..) 

Cho nên tôi nghĩ điểm quan trọng trong lời Chúa nói nằm ở từ ‘Ngôn sứ’ hơn là ở chỗ ‘nơi quê hương’ – Ngài đang nói về thân phận của ngôn sứ chứ không phải chuyện nhập môn tâm lý học !  Từ nhà đạo Việt xưa quen dùng chữ ‘tiên tri’, qua khoảng thập niên 70 trở đi thì từ ‘ngôn sứ’ (chính xác hơn về ngữ nghĩa) trở nên thông dụng, nhưng hình như gần đây chữ tiên tri lại đuợc nhiều nơi ưa chuộng trở lại, không rõ tại sao ! Cá nhân tôi thì thấy nguời Nhật dùng từ 預 言者 (yogensha – dự ngôn giả) là hay, vì 預言 (dự ngôn) hàm đuợc ý “lời chuẩn bị”  – dự ngôn giả là nguời nói lời chuẩn bị, dọn đuờng cho chính Ngôi Lời nhập thể ! 

Bị khinh miệt, bị công kích, thậm chí bị bách hại và tiêu diệt là thân phận chung của các dự ngôn giả , và chính Chúa Kitô cũng sẽ trải qua. Nguời không chỉ bị nguời cùng làng cùng quê phủ nhận, mà ngay quê huơng lớn hơn là Israel cũng từ chối Nguời, và nói cho cùng thì cả thế giới cũng không tiếp nhận Nguời , như ghi trong Lời Tiền ngôn của Phúc âm Gioan, “Nguời đã đến nhà mình, mà nguời nhà đã không đón nhận.” (Gioan 1,11) 

Dự ngôn giả, hay ngôn sứ, hiểu theo nghĩa chuyên biệt của Thánh kinh (biblical sense) thì chỉ gồm các ngôn sứ đuợc ghi nhận trong Cựu uớc – sau Chúa Giêsu thì không còn nữa, vì Nguời đã là Mặc khải cuối cùng của Chúa Cha. Tuy nhiên, theo nghĩa của sứ vụ (missionary sense) thì chính chúng ta, mọi nguời tin vào Chúa Kitô, phải tiếp tục là những dự ngôn giả để đưa Chúa đến cho thế giới, cho mọi nguời. Chúng ta đều đuợc giao cho sứ mệnh ngôn sứ khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội để nói về Chúa cho anh chị em – “nói” không chỉ và trưóc tiên không phải bằng từ ngữ, nhưng bằng cách sống chứng nhân theo những gì Chúa đã truyền dậy. 

Cũng như các ngôn sứ, chúng ta cũng có thể bị thế gian (có khi ngay trong chính nhà mình, ở quê mình !) ghét bỏ, như lời Phúc âm Gioan, “Nếu họ ghét anh em, hãy nhớ họ đã ghét Thầy truớc…” (Gioan 15,18) 

Gioan X Lộ   

 

CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN

NGÀY 11 THÁNG 7

 

Ngay từ những ngày đầu của sứ mạng công khai, Chúa Giêsu đã tuyển chọn các tông đồ cụ thể là lập ra nhóm 12 tông đồ (Mc 3: 13-19; Mt 10: 1-4; Lc 6:12-16). Mục đích của Chúa Giêsu khi chọn các tông đồ đó là để các ông ở với Ngài và để Ngài sai các ông đi (Mc 3: 13-19). Sau một thời gian ở với Chúa Giêsu, bài tin mừng hôm nay các tông đồ được thầy Giêsu sai lên đường cho sứ mạng công bố Triều Đại Thiên Chúa đã đến (Mc 1: 15). Những con người của biển cả, của chài, của lưới nay ra đi loan báo Tin Mừng Nước Chúa chắc chắn có nhiều bỡ ngỡ, lúng túng. Chính vì thế mà thầy Giêsu đã chuẩn bị cho các môn đệ của mình thật kỹ càng cho hành trình truyền giáo. Chúng ta cùng nhau tìm hiểu vài nét chính xem người môn đệ của Chúa Giêsu phải ra đi loan báo Nước Thiên Chúa như thế nào.

 Điều đầu tiên được nói đến đó là “Chúa sai các ông đi từng hai người một”. Công việc loan báo Nước Thiên Chúa không phải là việc mang tính cá nhân mà là việc của cộng đoàn. Từng hai người được sai vào sứ mạng cho chúng ta thấy dự án của Nước Thiên Chúa không thuộc độc quyền của một cá nhân nào vì Nước Thiên Chúa vốn phổ quát dành cho tất cả mọi người. Vì thế người môn đệ ra đi loan báo Nước Chúa phải làm cho người khác thấy được tính chất cộng đoàn của điều mình đang loan báo. Có lẽ quan trọng hơn hết đó chính là loan báo Nước Chúa qua việc cho thấy sự hiệp nhất giữa các ông với nhau.

 Thứ đến “Chúa Giêsu ban cho các ông có quyền trên các thần ô uế”. Người môn đệ loan báo Nước Thiên Chúa không chỉ bằng lời nói mà còn bằng hành động. Có năng quyền trên các thần ô uế là một dấu chỉ cho thấy Nước Thiên Chúa mạnh hơn sự dữ. Các môn đệ có thể nhân danh Chúa mà trừ quỷ cho thấy Triều Đại sắp đến là Triều Đại mà ở đó Thiên Chúa sẽ làm chủ mọi sự.

 Kế đến, Chúa Giêsu truyền cho các môn đệ phải ra đi trong một tư thế nhẹ nhàng “không bánh không tiền…không mặc hai áo”. Hành trang của người môn đệ trong hành trình sứ mạng là hai bàn tay trắng. Của cải vật chất không có chỗ trong hành trình này. Qua việc nói không với của cải vật chất, người môn đệ được mời gọi để bám víu vào chính Chúa, vào sự quan phòng của Ngài hơn là vào những bảo đảm thế gian. Người môn đệ cũng được dạy chỉ chọn một nơi là chỗ trọ trong hành trình rao giảng “vào nhà nào thì ở lại đó cho đến khi ra đi”. Chọn một nơi đáng tin làm căn cứ điểm và ở đó cho đến khi sứ mạng kết thúc là lời khuyên mà Chúa Giêsu dành cho các môn đệ. Cái ưu tiên của sứ mạng là loan báo Nước Thiên Chúa. Vì thế, nếu người môn đệ mãi bận tâm với việc thay đổi nơi ăn chốn ở thì khó toàn tâm để thực hành sứ mạng.

 Cuối cùng người môn đệ được mời gọi để có thái độ rõ ràng với những ai không đón nhận lời rao giảng “hãy phủi bụi chân để làm bằng chứng tố cáo họ”. Tin mừng theo thánh Luca cho chúng ta thấy khi sai 72 môn đệ ra đi cho sứ mạng Chúa Giêsu cũng dặn các ông giũ trả cả bụi ở chân khi người dân ở đó không đón nhận mình. Tuy nhiên, hành động giũ bụi chân được thêm vào câu nói “Triều đại Thiên Chúa đã đến gần” (Lc 10: 1-12). Điều được nhấn mạnh ở đây là trong mọi hoàn cảnh người điều người môn đệ cần làm là loan báo Nước Thiên Chúa đã đến gần. Cho dù mình được đón tiếp hay bị từ chối thì sứ điệp này vẫn phải được công bố.

 Là những người tin Chúa Giêsu, chúng ta được mời gọi để ở lại với Ngài và để Ngài sai chúng ta lên đường cho sứ mạng. Sứ mạng của chúng ta không khác với sứ mạng của các tông đồ xưa đó là công bố cho mọi người biết về sự cận kề của Nước Thiên Chúa. Cũng giống như các tông đồ, chúng ta được mời gọi loan báo Nước Thiên Chúa một cách vô vị lợi, nhẹ nhàng nhưng quyết liệt. Các tông đồ xưa được có năng quyền trên các thần ô uế để làm chứng cho Nước Thiên Chúa. Ngày nay chúng ta cũng được Chúa ban cho sức mạnh để sống như những người con thật sự của Chúa. Chúng ta được ban cho khả năng sống vươn lên mọi cám dỗ và mời gọi của sự dữ. Nếu chúng ta dám sống như những người tin Chúa thật sự thì đời sống của chúng ta sẽ là một dấu chỉ tuyệt vời về sự hiện diện của Nước Thiên Chúa cho con người hôm nay.

Joseph Nhã SJ

 

 

CHÚA NHẬT XVI THƯỜNG NIÊN

NGÀY 18 THÁNG 7

 

THIÊN CHÚA CHĂN DẮT DÂN NGÀI

Nếu phải dùng một hình ảnh để diễn tả mối quan hệ giữa Thiên Chúa và dân Thánh của Ngài thì có lẽ hình ảnh đầu tiên được nghĩ đến và là hình ảnh thân quen, dễ hiểu, dễ cảm nhận nhất, hình ảnh được nói đến ở cả trong Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước thì đó là hình ảnh người chăn chiên và đoàn chiên. Các bài đọc trong Thánh Lễ hôm nay cho chúng ta thấy Thiên Chúa yêu thương và chăm sóc dân Ngài như Mục tử.  

  1. “Ta sẽ quy tụ đoàn chiên của Ta còn sót lại. Ta sẽ cho xuất hiện các mục tử để lãnh đạo dân chúng”

Thiên Chúa đã ký kết với Áp-ra-ham, tổ phụ của dân Do Thái một giao ước vĩnh cửu, hứa ban cho ông và cho dòng dõi ông những phúc lành. Qua các thời tổ phụ, đến thời Môi-sê, Thiên Chúa trung tín, xác nhận và thắt chặt quan hệ giữa Ngài với dân qua Giao ước trên núi Si-nai. Nội dung của Giao ước là nếu dân tuân giữ những điều Chúa truyền dạy thì Thiên Chúa sẽ là Chúa của họ, sẽ bảo vệ họ. Tuy nhiên, dân Do Thái đã nhiều lần phản bội lại Giao ước với Thiên Chúa. Kết quả là họ bị phân tán, dân bị lưu đày. Giê-rê-mi-a là một trong những ngôn sứ lớn thời lưu đày. Ông đã phải chứng kiến cảnh Giê-ru-sa-lem thất thủ, vua, quan, tư tế và dân bị lưu đày sang Ba-by-lon. Cuộc đời và lời rao giảng của ông mang trọn những bi đát, đau thương của thời đại, nhưng cũng đầy tràn niềm hy vọng cho dân. Bài đọc một hôm nay được trích từ chương 23, câu 1-6 sách Giê-rê-mi-a. Trước hết ngôn sứ loan báo sấm ngôn của Thiên Chúa, chỉ rõ nguyên nhân làm dân Chúa bị tan tác. Những vị lãnh đạo đã “xua đuổi và chẳng lưu tâm”, đã có “những hành vi gian ác” Dĩ nhiên, dân chúng có trách nhiệm vì sự bất trung tín của mình, nhưng trách nhiệm của những người lãnh đạo nặng hơn. Họ không chu toàn nghĩa vụ đại diện Thiên Chúa chăm lo cho dân Ngài, không hướng dẫn và chỉ đạo để dân tuân thủ những điều Chúa dạy. Rồi ngôn sứ loan báo Thiên Chúa sẽ lấy lại quyền dẫn dắt, chính Ngài sẽ đích thân quy tụ và chăm sóc đoàn chiên của Ngài. Hơn nữa, Ngài còn hứa cho các mục tử lãnh đạo dân chúng.

“Ta sẽ làm nẩy sinh cho nhà Đa-vít một chồi non chính trực.

Vị vua lên ngôi trị vì sẽ là người khôn ngoan, tài giỏi trong xứ sở, vua sẽ thi hành điều chính trực công minh”

Vị Vua ấy, vị Mục tử nhân lành ấy không ai khác, chính là Đức Giê-su. Ta sẽ thấy Mục tử Giê-su chăm sóc “chiên” của Ngài thế nào trong bài đọc Tin Mừng.

  1. Đức Giê-su đã liên kết Do Thái với dân ngoại thành một

Với người Do Thái, quan niệm “dân riêng-dân ngoại” ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống của họ. Họ luôn tự hào là dân tộc được Thiên Chúa tuyển chọn, là “dân riêng” của Thiên Chúa. Họ xem những người thuộc các dân tộc khác, hoặc thậm chí người Do Thái nhưng đã bị pha trộn huyết thống với các dân tộc khác đều là “dân ngoại”. Không giao thương, không giao tiếp, không giao hảo với “dân ngoại”, vô hình chung người Do Thái đã dựng nên một ngăn cách, một “bức tường” giữa họ và những người khác. Thánh Phao-lô đã nói trong bài đọc hai hôm nay, Đức Giê-su đã “phá đổ bức tường ngăn cách”đó, Ngài đã “làm cho đôi bên được hòa giải với Thiên Chúa trong một thân thể duy nhất”. Nhờ sự chết và phục sinh của Chúa Giê-su, Ngài đã “tiêu diệt sự thù ghét”, đã liên kết dân ngoại và dân Do Thái thành một, như là một đoàn chiên duy nhất mà Ngài là Mục tử dẫn dắt, Ngài trở nên sự bình an cho tất cả nhân loại. Đây là Tin Mừng lớn lao, một niềm vui cho mọi người. Một nhân loại đại đồng, như một gia đình, có Thiên Chúa là Cha yêu thương, là Đấng chăm sóc, dẫn dắt mọi người. Ta nhận ra rằng nguyên nhân có sự phân biệt chủng tộc, phân biệt vùng miền (Bắc-Nam, Đông-Tây), sự bài xích dân tộc trên thế giới chính là sự thù ghét. Hậu quả của thù ghét là chia rẽ, nghi kỵ, chém giết, chiến tranh…Tất cả những sự dữ ấy đã được “hóa giải” nơi Đức Giê-su Ki-tô, là Mục Tử nhân lành, là bình an cho “những kẻ ở gần” và cho cả “những kẻ ở xa”. Từ nay sẽ “không còn Do Thái hay Hi lạp; không còn nô lệ hay tự do, không còn nam hay nữ; vì hết thảy anh em là một trong Ðức Ki-tô Giê-su” (Gl 3,28)

  1. Ngài chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt

 Chỉ trong bốn câu ngắn ngủi (Mc 6,30-34), Thánh sử Mác-cô đã phác họa cho chúng ta khuôn mặt của Chúa Giê-su, vị Mục tử nhân lành, yêu thương chăm sóc đoàn chiên của mình, hiện thực lời hứa mà ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã nói trong bài đọc một.

Chúa Giê-su là Mục tử quan tâm đến nhu cầu thiết thực trong đời sống hàng ngày và nhu cầu tinh thần, tâm linh. Thấy các môn đệ của mình hăng say kể lại thành quả rao giảng Tin Mừng, Ngài nói các ông nên lui vào nơi thanh vắng để nghỉ ngơi. Làm việc, kể cả việc Tông đồ cũng cần có những giây phút nghỉ ngơi. Nhờ những giây phút nghỉ ngơi này, chúng ta có thể cầu nguyện với Thiên Chúa, để Ngài bổ sức và ban ơn cần thiết, nhờ đó có thể tiếp tục sứ mạng Tông đồ với năng lượng và sáng kiến mới. Tựa như người tiều phu phải có thời gian để mài lại chiếc rìu của mình, sau những giờ làm việc liên tục, chúng ta cũng cần có thời gian để “mài” lại cuộc sống của chúng ta. Nhiều khi chúng ta mải làm việc, lo toan, chăm chút cho những điều đối với chúng ta xem ra là quan trọng. Đó có thể là những công việc của hiện tại, những dự tính cho tương lai, hay là những bộn bề của cuộc sống mà quên đi cùng đích và ý nghĩa của cuộc đời mình. Gần đây, có nhiều bạn trẻ đang làm việc tại Nhật đã qua đời vì “đột tử”, vì làm việc quá sức. Cần gióng lên một tiếng chuông báo động cho hiện tượng này. Xin các bạn hãy chú ý giữ gìn sức khỏe. “Hãy lui vào nơi vắng vẻ mà nghỉ ngơi đôi chút” như Chúa Giê-su mời gọi. Hãy đến với Chúa để trò chuyện và tâm sự với Người, chắc chắn chúng ta sẽ có được những động lực mới để sống cách dồi dào và phong phú; nhờ thế, cuộc đời của chúng ta sẽ trở nên ý nghĩa hơn.

“Ngài chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt”

Chúa Giê-su là Mục tử mang trái tim thổn thức, chạnh lòng thương đoàn chiên. Ngài không đành lòng ngoảnh mặt làm ngơ khi thấy dân chúng khao khát được nghe giảng dạy, mong ước được chữa lành, dù có thể Ngài rất mệt và cần nghỉ ngơi. Bài Tin Mừng hôm nay kết thúc bằng câu: “Và Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều” Mục tử tốt lành và nhân hậu không nề hà, không quản ngại, không còn có giờ riêng cho mình nữa khi thấy nhu cầu của đoàn chiên. Xin cho các Mục tử trong Giáo hội, đặc biệt trong Giáo đoàn của chúng ta cũng có được trái tim “chạnh lòng thương” như Chúa, để không chỉ lo cho bản thân mình, nhưng luôn sẵn sàng phục vụ đoàn chiên Chúa trao phó với tất cả lòng nhiệt thành và quảng đại.

Lm An-tôn Vũ Khánh Tường, SVD

 

 

CHÚA NHẬT XVII THƯỜNG NIÊN

NGÀY 25 THÁNG 7

 

‘TỪNG CHÚT MỘT’ CHẲNG BAO GIỜ VÔ NGHĨA CẢ!

Mỗi khi được mời gọi đóng góp, hoặc chia sẻ những gì mình có, hầu giúp đỡ tha nhân, chúng ta thường nghĩ hoặc nói: bản thân tôi làm được gì? Phần của tôi quá ít ỏi làm sao mà giúp được ai?

Kính thưa quý ông bà và anh chị em! Có lẽ còn nhiều cách suy nghĩ, cũng như lời đáp khác, nhưng tựu chung lại: một mình tôi sẽ chẳng làm được gì! Đúng vậy, chỉ cá nhân chúng ta sẽ không làm gì được, nhưng phải chăng ’từng chút một’ lại vô ích sao? Các bài đọc hôm nay, đặc biệt, bài đọc I trích Sách các Vua quyển thứ 2 và bài Tin Mừng theo Thánh Gio-an, cho chúng ta một cách nhìn khác về sự ít ỏi, về sự không đáng kể, nhưng nếu được đặt vào bàn tay Chúa thì nó trở nên đông đảo, vô số, và vô kể.

Trước hết, từng chút một sẽ trở nên vô vàn nếu biết đặt niềm tin nơi Chúa và cộng tác với Ngài bằng cách đóng góp phần nhỏ của mình. Thời ngôn sứ Ê-li-sa, chỉ vỏn vẹn hai ‘hai mươi chiếc bánh mạch nha và lúa mì’ (x. 2V 4, 42) của một người xứ Baal-salisa mà đủ cho ‘một trăm người ăn’ (x. 2V 4, 43). Làm sao có thể như vậy được? Bởi lẽ ông tin tưởng vào lời tiên tri Ê-li-sa là ‘người của Thiên Chúa’ nói: “Cứ dọn cho dân chúng ăn, vì Chúa phán như sau: ‘Người ta ăn rồi mà sẽ còn dư’ (2V 4, 43), hơn nữa, ông còn biết chia san phần nhỏ của bản thân. Tương tự, hình ảnh em bé mang ‘năm chiếc bánh và hai con cá’, mà được Tông đồ An-rê phát hiện, rồi thông báo cho Đức Giê-su, cũng biết đóng góp phần nhỏ của mình. Có lẽ đây là thức ăn đi đường của em và của gia đình em trong ngày hôm ấy. Giả sử, em bé này suy nghĩ như chúng ta: một mình tôi thì làm được gì! Quá ít ỏi chẳng thấm vào đâu! Rồi không chịu chia sẻ, vì sợ sẽ chẳng có gì để bỏ vào bụng trên đường về nhà. Như vậy, có lẽ Đức Giê-su vẫn làm phép lạ hoá bánh ra nhiều, nhưng bằng một cách khác chăng! Tuy nhiên, thực tế, em bé đã sẵn sàng góp phần ít ỏi của mình, với tinh thần phó thác hoàn toàn vào Đức Giê-su, để Ngài lo liệu cho dân chúng. Và điều kỳ diệu đã đến! Phép lạ luôn đến từ đức tin vào Thiên Chúa. Một chút chẳng là gì, nhưng nó trở nên nhiều vô kể khi chúng ta tin tưởng vào Chúa, đồng thời chia san phần của mình, và giao phó cho Chúa.

Thứ đến, từng chút một sẽ trở nên vô kể, nếu biết vâng phục, thực hiện những gì Chúa truyền dạy. Ở bài đọc I, người từ Baal-salisa tuy sửng sốt trước lời nói của ngôn sứ Ê-li-sa, nhưng vẫn tuân phục và thực hiện như lời truyền. Kết quả của hành động đó quá rõ ràng: “Đoạn người dọn cho họ ăn mà còn dư đúng như lời Chúa phán” (2V 4, 44). Chúng ta đôi lúc cũng như Tông đồ Phi-líp-phê khi nghe Đức Giê-su nói cho đám đông ăn, ông liền đáp: “Hai trăm bạc bánh cũng không đủ để mỗi người được một chút” (Ga 6, 7), và chẳng khác gì với Tông đồ An-rê lúc thưa với Đức Giê-su: “…nhưng bấy nhiêu thì thấm vào đâu cho từng ấy người” (x. Ga 6, 9). Tuy nhiên, các ông đã vâng phục, thực hiện những gì Ngài căn dặn: “Cứ bảo người ta ngồi xuống” (Ga 6, 10), và mọi việc diễn ra một cách kỳ diệu trước mắt các Tông đồ, với đám đông năm ngàn người đàn ông (chưa kể đàn bà, con trẻ). Trong những lúc này, nếu chỉ dùng lí trí thuần tuý, trí tuệ, kiến thức, nhằm áp đảo đức tin, thì chắc hẳn chúng ta khó làm theo điều có vẻ nghịch lý, nhưng thật sự đã xảy ra diệu kỳ. Đức tin khiến chúng ta đặt niềm tín thác vào Chúa, làm cho tâm hồn nhẹ nhàng mở rộng chứ không khép kín, biến sự bất tuân thành vâng phục trìu mến thiết tha, và đưa chúng ta đến việc hành động, thực hiện theo lời Chúa truyền dạy, đặc biệt, sống giới răn yêu mến Chúa và thương yêu tha nhân.

Sau cùng, từng chút một sẽ trở nên dư dật hơn cả lòng mong đợi của chúng ta, nhờ vào ơn Thánh. Một khi chúng ta chia sẻ phần nhỏ bé của mình với cả niềm tín thác, và vâng phục làm theo Lời Chúa như em bé và các Tông Đồ trong bài Tin Mừng hôm nay, thì phần còn lại Đức Giê-su chắc chắn sẽ thực hiện, một hành động cao quý, vượt xa lí trí, mà chúng ta được diện kiến hằng ngày qua Bí tích Thánh Thể, nơi Thánh Lễ qua vị Linh mục bất xứng, yếu hèn: “Ngài cầm lấy bánh, tạ ơn, và phân phát cho các kẻ ngồi ăn…” (x. Ga 6, 11). Ơn Thánh Chúa không những đủ đầy cho mỗi chúng ta, mà còn dư tràn, vượt trên sự kỳ vọng, lòng mong đợi, niềm khát khao của chúng ta như thể: “…thu lại được mười hai thúng đầy bánh vụn do năm chiếc bánh lúa mạch người ta đã ăn mà còn dư” (x. Ga 6, 13). Ơn Chúa tuôn đổ tràn ngập trên mọi ngóc ngách cuộc đời, mọi nẻo đường đời chúng ta, mọi trạng huống cuộc sống này, nhưng chúng ta đừng bao giờ lãng phí ân sủng Chúa ban như lời Ngài căn dặn các Tông Đồ: “Khi họ đã ăn no nê,… ‘Hãy thu lấy những miếng còn lại, kẻo phí đi’” (x. Ga 6, 13). Để sống tinh thần này, chúng ta không thể không học nơi mẫu gương của Thánh Phao-lô khi ngài dặn dò các tín hữu thuộc giáo đoàn Ê-phê-sô “ăn ở xứng đáng với ơn gọi mà anh (chị) em đã lãnh nhận…Hết lòng khiêm nhượng, hiền hậu, nhẫn nại, chịu đựng nhau trong đức ái; hãy lo bảo vệ sự hợp nhất, lấy bình an hoà thuận làm dây ràng buộc” (Ep 4, 1-3). Được như vậy, chúng ta hằng cảm nghiệm và ngâm mình trong ân sủng Chúa.

Lạy Chúa, đối với chúng con “từng chút một có thể chẳng có nghĩa gì”, nhưng “từng chút ấy sẽ trở nên lớn lao, dư tràn” nhờ vào ơn Thánh, nhờ vào niềm tín thác và lòng vâng phục thực thi Lời Chúa dạy bảo chúng con.

                Từng chút từng chút một

                Điểm này nối điểm kia

                Tạo mối duyên liền mạch

                Dây gắn kết cõi lòng

                Chia san chẳng đợi mong

                Tín thác, hằng trông cậy

                Một lòng vâng phục sống

                Mến Chúa và yêu người. Amen!

Lm. Xuân Hy Vọng