Suy Niệm Lời Chúa-みことばの食卓

CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN

NGÀY 03 THÁNG 10

Bài đọc: St 2,18-24; Dt 2,9-11; Mc 10,2-12

Chủ đề của hai bài đọc chính hôm nay, Bài đọc 1 từ sách Sáng thế và bài Phúc âm theo thánh Marco, có thể thấy ngay là về Hôn nhân gia đình.

Bài đọc 1 chỉ gồm 7 câu ngắn ngủi trong chuơng hai Sáng thế, từ câu 18 đến 24 – nhưng nếu chúng ta chịu khó nhìn lại cả hai chuơng 2 và 3 thì câu chuyện về hai ông bà tổ phụ tổ mẫu của nhân loại sẽ đuợc sáng rõ hơn. 

Bình thuờng, ai cũng nghĩ giản dị Adam là tên nguời nam đầu tiên, còn Eva là tên nguời nữ thứ nhất. Nhưng thực ra trong mấy chuơng đầu của Kinh thánh, thì ‘adam’ chỉ có nghĩa là ‘con nguời’ hay ‘nguời đàn ông’ (man, or the human) chứ không phải là một tên riêng. Theo như Michael Heiser chẳng hạn, khi phân tích về văn phạm Hebrew đuợc dùng trong Sáng thế, thì chỉ từ Chuơng 4 trở đi, Adam mới có thể đuợc hiểu như tên riêng. Khi Thiên Chúa dựng nên con nguời (adam) đầu tiên, Ngài không đặt tên cho ông – cũng như Ngài đã không đặt tên cho muôn vật đã đuợc tạo dựng truớc, nhưng trao cho ‘adam’ cái quyền “gọi vật nào là gì, thì đó là tên nó .” (2,19) Khi Chúa đem nguời nữ đến cho ‘adam’ xem, ông vui suớng kêu lên, “Đây là xuơng bởi xuơng tôi, thịt bởi thịt tôi” và, “nguời này sẽ đuợc gọi là “Đàn bà”, vì từ ‘đàn ông’ mà ra !” (2,23) 

Nhưng tên của một loài chưa phải là tên riêng của một cá thể loài đó – như Mèo là tên của loài miêu, chứ chưa phải tên một chú mèo cụ thể nào . Phải qua Chuơng 3, sau câu chuyện Ăn trái cấm và khi vuờn Địa đàng không còn, thì “Nguời đàn ông mới đặt tên cho vợ mình là Eva, bởi vì bà là mẹ của chúng sinh.” (3,20) Như vậy, con nguời đầu tiên được đặt tên riêng trong lịch sử nhân lọai, không phải là nguời đàn ông, mà là nguời đàn bà, là bà EVA, Tổ mẫu của tất cả chúng ta !  

Cách diễn tả ‘Chúa lấy xuơng suờn của nguời đàn ông để làm nên nguời nữ’ (2,21) đã nhiều khi đuợc dùng để cho là nguời nữ, cách nào đó, là ở duới nguời nam, phải phụ thuộc vào nguời nam – nhưng thực sự, đó không phải là ý nghĩa nguyên thuỷ của bản văn ! Vì Kinh thánh tiếp rằng, “Bởi vậy, nguời đàn ông sẽ lìa bỏ cha mẹ mình mà tìm gắn bó với nguời nữ, và cả hai sẽ nên một nhục thể.” (2,24) Nguời đàn ông phải đi tìm nguời nữ để tìm lại sự Vẹn toàn (the Wholeness) của mình, chứ không phải là nguời Nữ không thể tồn tại độc lập nên phải bám vào nguời đàn ông như luật Tam Tòng kiểu Viễn Đông hay ‘phải đuợc nguời nam giám hộ’ (male custodian) của Trung đông !

Trong đoạn Phúc âm hôm nay, những nguời biệt phái đến cật vấn Chúa về chuyện ly dị mà luật Moise đã cho phép. Nên chú ý Chúa không phải là nguời đưa vấn đề ra truớc. Phúc âm không ghi lại là Nguời đã rao giảng chống Moise ở điểm này, nhưng khi họ đem vấn đề ra, câu trả lời của Nguời là, “Vì các nguơi cứng lòng (theo nguyên ngữ Hebrew, lẽ ra phải hiểu mạnh hơn là “vì các nguời Không Có Tim !”) nên Moise cho như thế, nhưng TỪ THUỞ BAN ĐẦU thì không có như vậy !” Và Chúa dẫn lại hầu như nguyên văn St 2, 24 “Bởi đó, nguời nam sẽ lìa bỏ cha mẹ để luyến ái với vợ mình, và cả hai nên một huyết nhục”, và Nguời kết luận, “Điều gì Thiên Chúa đã kết hợp, thì loài nguời không đuợc phân ly!” 

Hôn nhân, đối với nguời Kitô hữu, không chỉ là một định chế xã hội (vì như một định chế xã hội thì nó có thể thay đổi theo thời gian, theo xã hội biến thiên), nhưng là một điều đã đuợc Thiên Chúa thiết định từ ban đầu, khi Nguời tạo dựng nên nhân loại. 

Xã hội ngày hôm nay đang có khuynh huớng phủ nhận điều này, và rất nhiều nơi họ đang định nghĩa lại hôn nhân không còn như “một kết hợp bất khả ly giữa một nguời nam và một nguời nữ, trong tình yêu thuơng và huớng về truyền sinh” , mà chỉ như một thứ hợp đồng “muốn sao thì làm vậy” ! Quan niêm truyền thống Kitô giáo bị coi như ‘lạc hậu, lỗi thời’ cần phải vuợt qua !! Nhưng những quan niệm gọi là mới mẻ về hôn nhân ấy, sẽ không đem lại hạnh phúc cho con nguời mà cuối cùng sẽ chỉ đem lại khổ đau hơn cho chính những nguời trong cuộc ! 

Ý định nguyên thủy của Chúa về hôn nhân con nguời là Chân lý, và chỉ có Chân lý mới giải thoát đuợc anh em ! (Gioan 8,32)

Gioan X Lộ

CHÚA NHẬT XXVIII THƯỜNG NIÊN

NGÀY 10 THÁNG 10

Điều Kiện để theo Chúa

Hôm nay giáo hội mời gọi chúng ta nghe một câu chuyện trong tin mừng của thánh Mác-cô. Một câu chuyện có một khởi sự đầy hy vọng nhưng lại có một kết thúc buồn.

Người thanh niên trong câu chuyện hôm nay quả là một thanh niên tốt. Anh giữ cẩn thận các điều luật của tôn giáo và truyền thống tiền nhân. “Không giết người, không ngoại tình, không trộm cắp, không làm chứng gian, không làm hại ai và thờ cha kính mẹ”. Đây quả là một thanh niên hiếm có. Tuy nhiên, Chúa đã gieo vào lòng anh ước muốn thánh thiện hơn nữa đó là “khao khát sự sống đời đời”. Ở điểm này anh thanh niên này thật sự là một tấm gương cho chúng ta – những người đang sống tại thời đại này. Sự sống đời đời lắm khi đối với chúng ta là một cái gì đó mơ hồ, có cũng được mà không cũng chẳng sao. Lo cái lợi trước mắt đã!! Anh thanh niên đã nhận ra mình cần một cái gì đó khác hơn, cao cả hơn so với những gì mình đang làm. Chúa Giêsu đã nhìn anh bằng đôi mắt trìu mến và gọi anh đi theo Ngài. Ngài mến anh thanh niên có lẽ không chỉ bởi vì anh giữ luật nghiêm túc mà hơn thế là vì lòng khao khát nên trong lành của anh chính vì thế mà Ngài đã đề nghị anh theo Ngài.

Tuy nhiên, điều kiện mà Chúa Giêsu đặt ra cho anh đã làm anh chùn bước. “Bán hết tất cả mọi sự mà cho người nghèo rồi đến theo Ta”. Thánh Mác-cô chỉ dùng đúng một câu ngắn để diễn ta tâm trạng của người thanh niên lúc đó: “anh ta sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải”. Chàng thanh niên đã quay lưng trước điều kiện mà Giêsu đưa ra để được đi theo Ngài. Anh đã rời gót với nét mặt buồn rầu. Người thanh niên buồn có thể vì anh ta đã không nghĩ rằng điều kiện theo Chúa lại khó đến thế. Cũng có thể anh buồn vì anh cảm thấy sự giằng co trong lòng mình giữa tiếng gọi của Trời cao và sự níu kéo của vật chất. Cũng có thể anh buồn vì đã không thể đưa ra chọn lựa dứt khoát, hay đúng hơn anh đã để cho tiếng gọi của vật chất lấn át lời mời của Trời Cao.

Chúa Giêsu chắc chắn cũng buồn. Chúa buồn khi thấy của cải vật chất có thể trói buộc người ta làm họ không được tự do để đáp lại tiếng Chúa. Khi người thanh niên rời đi Chúa Giêsu đã dạy cho các môn đệ biết rằng của cải vật chất là một rào cản lớn trên con đường vào Nước Chúa. Hình ảnh con lạc đà chui qua lỗ kim là hình ảnh cho thấy rằng người giàu có không có phương chi vào nước Trời. Trong các sách tin mừng nhiều lần chúng ta thấy Chúa Giêsu lên án thái độ tham tiền và tôn thờ của cải vật chất. Chẳng hạn trong tin mừng Luca, Chúa Giêsu đã nói rõ “anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được” (Luca 16, 13b). Ở đây Chúa mời gọi người môn đệ chọn lựa giữa Chúa và tiền của. Lắm khi chúng ta bị thất bại trong việc chọn lựa Chúa thay vì tiền của!! Hay ở một đoạn tin mừng khác của thánh Luca, Chúa Giêsu dạy các môn đệ phải coi chừng, giữ mình tránh mọi thứ tham lam (Luca 14,15). Lý do là vì của cải không thể là bảo đảm tuyệt đối cho con người và còn hơn thế nữa của cải vật chất là rào cản chúng ta trên con đường về nhà Chúa.

Một điều chắc chắn là tất cả chúng ta cần của cải vật chất để sống. Là những người Việt Nam chúng ta hiểu rõ giá trị của đồng tiền. Vì không có tiền, không có của cải vật chất mà biết bao nhiêu trẻ em không được đến trường, biết bao người không được sống đúng phẩm hạnh của mình, biết bao cơ hội bị tước mất và thậm chí nhiều người phải bỏ mạng. Nạn nhân của nghèo đói không chỉ là những người chúng ta nghe được trên tin tức báo đài mà lắm khi là bạn bè, người thân của chúng ta. Chính vì lẽ đó mà phần đông chúng ta đang cố gắng kiếm cho được càng nhiều tiền của càng tốt. Tôi đã gặp vô số bạn trẻ phải cố gắng làm thêm một vài giờ mỗi ngày để kiếm thêm tiền giúp cho gia đình, bạn bè dù đã rất mỏi mệt. Tôi đã chứng kiên những đôi tay rã rời, những đôi chân không bước vững sau những giờ tăng ca vất vả!

Chúng ta cần phải lưu ý. Ở đây Chúa Giêsu không lên án việc kiếm tiền cách chính đáng. Hơn ai hết, là con của bác thợ mộc Giuse, Chúa Giêsu cũng đã vất vả lao động mưu sinh hằng ngày. Chúng ta có thể tin tưởng rằng Chúa hiểu hơn ai hết những vất vả lao nhọc của chúng ta để mưu sinh. Tuy nhiên, điều Chúa muốn chúng ta phải tránh ở đây chính là thái độ tôn thờ của cải vật chất, thái độ xem của cải vật chất là cứu cánh của cuộc đời chúng ta. Có ai đó đã nói rằng “đồng tiền là đầy tớ tốt nhưng là một ông chủ tồi”. Câu nói này diễn tả đúng thái độ mà Chúa muốn chúng ta có đối với của cải vật chất. Hãy sử dụng của cải như một tên đầy tớ của chúng ta “bán và cho người nghèo”. Hãy thanh thoát với của cải vật chất. Không tôn thờ, bám víu tiền của để lòng chúng ta được nhẹ nhàng mà theo Chúa trên con đường dẫn tới cõi phúc đời đời.

Joseph Nhã SJ

 

CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN

NGÀY 17 THÁNG 10

 

AI TRONG CÁC CON MUỐN LÀM LỚN,

THÌ HÃY TỰ LÀM ĐẦY TỚ ANH EM

Lẽ thường tình, trong xã hội chúng ta đang sống, hầu hết ai cũng muốn được đứng nhất, được làm lớn trong một tập thể. Từ một tập thể nhỏ như là gia đình, đến một tập thể lớn hơn như trường lớp, hội nhóm, công ty, đảng phái, quốc gia, thế giới, ai cũng có ước vọng được làm nhân vật trung tâm, ở vị trí ưu tiên, đứng trên người khác, có uy quyền, lợi lộc, được người khác kính nể, phục vụ; hơn nữa nhiều người, nhiều quốc gia còn có tham vọng muốn làm bá chủ thiên hạ. Các môn đệ đi theo Chúa Giê-su cũng không phải là những trường hợp ngoại lệ. Khi theo Thầy Giê-su đi lên Giê-ru-sa-lem, các môn đệ nghĩ rằng Thầy sắp lên làm vua, nên dọc đường các ông tranh cãi nhau xem ai sẽ nắm giữ chức vụ lớn nhất khi Thầy thống lĩnh thiên hạ, rồi hai ông Gia-cô-bê và Gioan không giấu được tham vọng chia sẻ vinh quang và quyền lực với Thấy nên đã mạnh dạn thưa:“Xin cho chúng con một người ngồi bên hữu, một người ngồi bên tả Thầy trong vinh quang của Thầy”. Các môn đệ khác nghe thấy thế liền bực tức với hai anh em nhà Gioan, bởi các ông cũng có cùng một suy nghĩ như thế, nhưng chưa kịp nói ra, hoặc ngấm ngầm chờ thời cơ thuận tiện để xin, nhưng đã bị hai ông kia nói trước. Nhân cơ hội ấy, Chúa Giê-su dạy các ông bài học của người làm lãnh đạo, theo ý của Chúa. Đó là “Ai trong các con muốn làm lớn, thì hãy tự làm đầy tớ anh em.”

“Xin cho chúng con một người ngồi bên hữu, một người ngồi bên tả Thầy trong vinh quang của Thầy”

Lý do mà hai môn đệ (không chỉ hai ông mà thôi, mà các ông còn lại cũng y như thế) xin Chúa “ngồi bên hữu, bên tả” trong vinh quang của Ngài thật dễ hiểu. Các ông đã bỏ mọi sự để đi theo Ngài nên các ông muốn phải có chút gì thu về. Không lẽ theo Chúa rồi lại trắng tay thì thua thiệt quá. Ngai, hay ghế tượng trưng cho chức quyền. Nếu như Thầy của mình lên ngai vua, thì mình cũng được làm tể tướng, thượng thư gì đó. Nói theo cấp bậc bây giờ thì nếu Chúa làm Tổng thống, mình cũng được làm Thủ tướng, Phó thủ tướng. Hai ông xin được có chức vụ, bởi khi có chức vụ, được làm lớn thì cũng có nghĩa là có quyền: quyền lực và quyền lợi. Mà đã có quyền rồi thì sẽ có những thứ khác nữa, như tiền bạc, danh vọng, địa vị…

“Các con không biết các con xin gì. Các con có thể uống chén Thầy sắp uống và chịu cùng một phép rửa Thầy sắp chịu không?”

Đáp lại với điều hai ông cầu xin, Chúa Giêsu trả lời: “Các con không biết các con xin gì. Các con có thể uống chén Thầy sắp uống và chịu cùng một phép rửa Thầy sắp chịu không?” Theo Thần học Kinh Thánh, “Chén” có ít nhất ba ý nghĩa: chén hiệp thông, chén thịnh nộ và chén Cứu độ.

Theo tục lệ phương đông (có cả Việt nam chúng ta), trong các bữa ăn, mọi người thường chuyền cho nhau một chén để uống chung, từ chén ấy biến thành biểu tượng của hiệp thông. Trong các phim chưởng, ta cũng thấy có thói quen “uống máu ăn thề”, bằng cách nhỏ mấy giọt máu của mình vào trong một chén rượu rồi mọi người chia nhau cùng uống, diễn tả lời thề cùng sống chết, có chung chia phúc-họa với nhau. Các Thánh vịnh thì dùng hình ảnh tiệc hiến tế, nơi con người được mời đến dự bàn tiệc của Thiên Chúa; chén rượu tràn đầy được ban tặng cho con người (Tv 23,5) là biểu trưng cho sự hiệp thông của con người với Thiên Chúa của Giao Ước, Đấng thông phần với những người trung thành của Ngài (Tv 16,5).

Mặt khác để diễn tả những hậu quả của cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, các tiên tri cũng sử dụng biểu tượng “chén”; chén này đổ một thứ rượu làm vui tâm hồn con người, nhưng lạm dụng rượu ấy sẽ dẫn đến say mèm xấu hổ. Cơn say ấy là sự trừng phạt Thiên Chúa dành cho những kẻ nghịch đạo. Chén phần của họ, thức uống chết chóc mà họ phải uống dù họ không muốn, đó là thứ “chén” thịnh nộ của Thiên Chúa.

Cơn thịnh nộ của Thiên Chúa dành sẵn cho những kẻ cứng lòng. Tuy nhiên, sự hoán cải sẽ giúp tránh cơn thịnh nộ ấy. Trong Cựu ước, các hiến tế đền tội diễn tả tội lỗi của kẻ hoán cải; máu của các con vật hứng trong các chén rảy nước, được rảy trên bàn thờ và trên dân chúng; cũng giống thế khi làm mới lại giao ước giữa dân được thanh tẩy và Thiên Chúa. Những nghi lễ đó biểu thị hy lễ nơi máu của Đức Kitô dâng hiến để thực hiện việc đền tội trọn vẹn và thực hiện Giao Ước vĩnh cửu với Thiên Chúa. Hy lễ này là “chén” mà Cha đã trao cho Con Ngài là Đức Giê-su uống; với lòng vâng phục thảo kính, Người Con này đã chấp nhận chén ấy để cứu chuộc nhân loại.

“Chén” Chúa Giê-su muốn nói ở đây là “Chén hiệp thông” và “Chén Cứu độ”. Lúc đó, chắc chắn Gia-cô-bê và Gio-an không hiểu được ý nghĩa của “Chén” Chúa Giê-su nói đâu, nhưng hai ông “ừ đại cho xong”, bởi muốn chiếm được cái “ghế” quyền lực, quyền lợi mà thôi. Động cơ theo Chúa ban đầu của các Tông đồ vẫn có những ẩn ý, những tham vọng tự nhiên. Tuy nhiên Chúa đã không la rầy, trách móc, nhưng dạy dỗ và thanh luyện dần các môn đệ của mình.

“Và ai muốn thành người cầm đầu trong các con, thì hãy tự làm nô lệ cho mọi người.”

Ngài còn tận dụng cơ hội này, khi các môn đệ khác bực tức, ganh tỵ với Gia-cô-bê và Gio-an, để dạy cho các ông bài học phục vụ của người lãnh đạo. Với Chúa Giê-su, người lớn nhất, người lãnh đạo là người phục vụ anh chị em của mình với tâm tình khiêm tốn, tự hạ, với lòng bác ái quảng đại. Thánh Phê-rô sau này đã khuyên các vị mục tử như sau: “Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa đã giao cho anh em: lo lắng cho họ không phải vì miễn cưỡng, nhưng hoàn toàn tự nguyện như Thiên Chúa muốn; Không phải vì ham hố lợi ích thấp hèn, nhưng vì lòng nhiệt tình tận tụy. Đừng lấy quyền mà thống trị những người mà Thiên Chúa đã giao cho anh em, nhưng hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên” (1 Pr 5,1-4).

Người ta kể lại rằng một ký giả khi thấy Mẹ Tê-rê-sa Can-cút-ta đang cúi xuống chăm sóc và đưa về nhà một người đang hấp hối trên đường phố đã nói với Mẹ rằng: “Nếu cho tôi một triệu đô-la tôi cũng sẽ không làm việc này!” Mẹ đã trả lời ký giả đó: “Tôi cũng sẽ không làm như vậy!”. Có thể chúng ta ngạc nhiên vì câu trả lời của Mẹ. Vâng, Mẹ đã không làm việc bác ái để lấy một triệu Mỹ kim, hay để được người khác tán dương, khen tặng. Mẹ vui vẻ phục vụ những người không được ai yêu thương, bị gạt ra bên lề xã hội, những người nghèo khổ, bệnh tật… vì Mẹ vâng lời và thực hiện giáo huấn của Chúa Giê-su, Thầy của Mẹ: “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; Ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người”(Mc 10,43-44). Ngày nay mỗi khi cả thế giới khi nói đến Mẹ, người ta sẽ nhắc đến những việc làm đầy yêu thương và thái độ phục vụ của Mẹ. Mẹ Tê-rê-sa Can-cút-ta là môn đệ đã theo chân Chúa Giê-su trên con đường phục vụ, trở thành người lớn bằng cách làm “đầy tớ” của mọi người. Có thể nói Mẹ Tê-rê-sa đã trở thành người lớn nhất khi làm theo lời dạy của Chúa Giê-su trong bài Tin Mừng chúng ta nghe hôm nay.

Lời Chúa hôm nay chất vấn chúng ta nhìn lại động cơ theo Chúa của mình cũng như ước muốn được làm “lớn” trong tập thể, cộng đoàn mình thuộc về. Cách này hay cách khác, chúng ta cũng được đặt làm lãnh đạo, ở vị trí đứng đầu, có trách nhiệm hướng dẫn người khác. Xin cho chúng ta có tâm tình khiêm tốn phục vụ anh chị em của mình, theo lời Chúa Giê-su dạy và theo gương Ngài đã nêu. Danh hài Sạc-lô (Charlie Chaplin) có nói: “Bạn cần quyền lực, chỉ khi bạn muốn làm điều gì xấu. Nếu không, chỉ cần Tình yêu là đủ để làm mọi sự” Xin cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo quốc gia trên thế giới cũng như trong Giáo hội nhận biết rằng “để phục vụ, chỉ cần Tình yêu là đủ” và xin cho họ có đủ Tình yêu để phục vụ, trở nên những người phục vụ trong tình yêu và bằng tình yêu.

Lm. Antôn Vũ Khánh Tường, SVD.

CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN

NGÀY 24 THÁNG 10

 

“ĐỨC TIN CỨU CHỮA CON!”

Mỗi lúc gặp cảnh gian truân khốn khó, chúng ta thường nghĩ mình là người bất hạnh nhất trần đời này, chẳng ai có thể khổ hơn bản thân ta nữa! Nhưng câu nói chúng ta vốn thường nghe: nhìn lên không bằng ai, nhưng nhìn xuống hơn cả tá người!!! ít nhiều đánh động. Sao ta lại cứ ‘nhìn lên’ và ‘nhìn xuống’, mà không ‘nhìn thẳng’ và ‘nhìn xung quanh’ chúng ta chứ?

Quả thật, chúng ta còn quá may mắn khi chứng kiến anh người mù Bar-ti-mê trong trình thuật Tin Mừng hôm nay. Chúng ta còn có cả đôi mắt đẹp, không chỉ tận hưởng vẻ đẹp chung quanh, mà có khi còn hút hồn người khác nữa. Chúng ta còn có đôi mắt sáng trong, tinh tường, nhìn ra mọi thứ trong đời. Chúng ta còn có đôi mắt tinh thông, giúp mình phân biệt phải trái, đúng sai, v.v…Tuy đôi mắt thể xác khoẻ mạnh, anh minh, nhưng với một ý nghĩa nào đó, đôi mắt đức tin của chúng ta có khi đang dần mù loà, đang mất đi thị lực, đang phai mờ vì còn nhiều đam mê thế tục, bao phen quên sống đạo, chỉ muốn ‘lau chùi cho đức tin bóng loáng, rồi cất giữ trong tủ kính’, mà chẳng buồn ‘thắp sáng ngọn nến đức tin ấy’ qua việc cầu nguyện và thực thi bác ái. Như vậy, hơn ai hết, chúng ta cần học đòi tâm tình đơn sơ, tín thác của anh khiếm thị Bar-ti-mê, dám kêu lớn tiếng cầu xin Đức Giê-su chữa lành, dẫu ngoài kia những người xung quanh có thể vì không hiểu chuyện mà ngăn cản chúng ta: “Hỡi ông Giê-su con vua Ða-vít, xin thương xót tôi…Hỡi con vua Ða-vít, xin thương xót tôi” (Mc 10, 47. 48).

Thoạt nhiên tôi nhớ đến một giai thoại ‘xưa hơn trái đất’ về chàng thanh niên thích chơi trội lập dị, muốn khác người. Cứ mỗi buổi chiều, anh mang ‘chiếc dù bay’ lên ngọn núi khá cao, để nhảy xuống một thung lũng kỳ bí hiểm nguy, hòng thoả chí đam mê mạo hiểm của mình. Nhưng thật không may, khi chuẩn bị gieo mình xuống, thì anh ta trượt chân, rơi tự do xuống vực. Tưởng chừng kết thúc cuộc đời này rồi, nhưng đang rơi thì anh bị vướng vào một cành cây rừng mọc chìa ra, đủ cứng cáp cứu anh thoát khỏi cơn hoạn nạn. Thế rồi anh cứ lơ lửng trên đó, nhìn lên toàn bầu trời bao la, nhìn xuống thì thung lũng tối tăm huyền bí lạ lùng, khiến anh choáng váng hãi hùng. Anh lấy hết sức bình tĩnh la to cầu cứu: Có ai trên đó cứu tôi với…với…với!!!!!! Chờ hồi lâu, chẳng một tiếng đáp lời, ngoài tiếng của anh vang vọng trở lại. Sau đó, anh bèn nhớ tới Chúa và cầu nguyện: Lạy Chúa, xin cứu con với! Con xin hứa sẽ làm bất cứ điều gì Chúa muốn!

Lúc ấy, anh bỗng nhiên nghe tiếng gió thổi mạnh như lời Chúa đáp: Được, Ta sẽ cứu con. Nhưng trước khi cứu, Ta muốn biết là con có thực sự tin rằng Ta làm được việc này không?

– Lạy Chúa, con tin chứ! Con tin chắc là Chúa cứu được con mà! Mau mau cứu con Chúa ơi, chân con run rẩy, đôi tay con rã rời lắm rồi, hic…hic!

   Chúa liền nói với anh:

– Được, thế thì con hãy buông tay ra!

Hy vọng tràn trề, thời cơ được thoát chết đến gần, nhưng chàng thanh niên ấy vẫn bám chặt vào cành cây kia, mà không chịu buông tay. Và cứ thế, anh ta ngước nhìn qua bờ vực bên kia và la lớn: “Có ai trên đó không, cứu tôi với!’

Giai thoại trên kết thúc thế nào không quan trọng, nhưng tự ngẫm nghĩ: nhiều lần trong đời, chúng ta cũng đã rơi vào trường hợp thế này! Miệng tuyên xưng tin vào Chúa, nhưng lòng chúng ta chưa dám đặt hết vào Ngài; hơn nữa, chúng ta chưa can đảm ra khỏi sự nghi ngờ, bồn chồn, lo âu của riêng mình, mà làm theo những gì Chúa muốn, những gì Chúa nói nơi lương tâm ngay thẳng tốt lành của ta, qua các biến cố cuộc sống, kể cả qua người mà ta không ưa thích, qua các sự cố có thể chẳng may mắn giữa cảnh đời thường. Tuy nhiên, anh chàng Bar-ti-mê khiếm thị trong đoạn Tin Mừng hôm nay, đã trao phó tất cả cho Đức Giê-su, khi nghe Ngài hỏi: “Anh muốn Ta làm gì cho anh?” (Mc 10, 51) Anh mau mắn dâng trọn sự yếu đuối, hèn mọn, mong manh của kiếp người cho Ngài, và tín thác đáp lời: “Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy” (Mc 10, 51). Thiết nghĩ, đây cũng chính lời cầu mà chúng ta nên kêu lên: Lạy Chúa, xin cho con được thấy, không chỉ bằng đôi mắt xác phàm này, mà hơn hết bằng con mắt đức tin, vốn được Chúa thương ban, nhằm tôi luyện, thánh hoá và cứu chữa con!

Vì thế, lời đáp ngắn gọn của Đức Giê-su chữa lành cho anh khiếm thị Bar-ti-mê khiến chúng ta phải nhìn lại đời sống đức tin của mình, nhìn lại đức tin của bản thân: “Đức tin anh đã chữa anh” (Mc 10, 52).

Trước hết, Đức tin tôi luyện chúng ta. Qua lời tiên tri Giê-rê-mi-a, Thiên Chúa hằng tôi luyện, rèn giũa dân Is-ra-el. Tuy họ đã bất trung, bất tín, đi ngược lại giao ước với Ngài, bao phen bỏ Thiên Chúa mà chạy theo các tà thần khác, nhưng Ngài luôn rộng lòng tha thứ, chờ đợi, kêu mời trở về với giao ước tình yêu với Ngài. Tuy họ ngỗ nghịch, chống báng, giết hại các ngôn sứ của Thiên Chúa, rồi bị đi lưu đày, nhưng Ngài vẫn bên cạnh dõi theo, ghé mắt nhân từ đoái thương: “Ta sẽ dẫn dắt chúng từ đất bắc trở về, sẽ tụ họp chúng lại từ bờ cõi trái đất…hợp thành một cộng đoàn thật đông quy tụ về đây” (Gr 31, 8).

Hơn nữa, Đức tin thánh hoá chúng ta. Tác giả thư gửi cho tín hữu Do Thái đã tỏ hiện một vị Thượng tế tối cao, không giống các thượng tế khác. Ngài tuy là Con Thiên Chúa, nhưng đã mặc lấy xác phàm, ngoại trừ tội lỗi, sống giữa chúng ta. Ngài tuy cao trọng, ngang bằng với Thiên Chúa, nhưng đã xuống thế, sống cùng với con người, chịu khổ đau, tử nạn và phục sinh: “Ngài có thể thông cảm với những kẻ mê muội và lầm lạc…” (x. Dt 5, 2). Tuy Ngài là Thiên Chúa, nhưng “không tự dành lấy quyền làm thượng tế” (x. Dt 5, 5), mà hằng thực thi thánh ý Chúa Cha “Con là Con Cha, hôm nay Cha sinh ra Con” và “Con là tư tế đến muôn đời theo phẩm hàm Men-ki-xê-đê” (Dt 5, 5. 6). Nhờ Ngài, đức tin chúng ta được thánh hoá, được dưỡng nuôi và triển nở.

Sau cùng, Đức tin cứu rỗi chúng ta. Đúng như lời Đức Giê-su phán với anh Bar-ti-mê: “Đức tin anh đã chữa anh” (Mc 10, 52). Nhờ vào đức tin trọn vẹn, niềm cậy trông hoàn toàn vào Ngài, mà anh ấy được giải thoát khỏi bệnh hoạn, tật nguyền, khỏi những khiếm khuyết hằn sâu trong tâm hồn cũng như thân xác. Cũng vậy, nhờ đức tin vào Con Thiên Chúa, mà chúng ta được cứu chuộc với chính giá máu của Ngài. Ước gì, đức tin này luôn giúp chúng ta gạn đục khơi trong, nâng đỡ chúng ta biết nhận ra bàn tay che chở, quan phòng của Chúa trong đời sống hằng ngày. Và với đức tin ấy, chúng ta dám bước ra khỏi con người yếu hèn của mình, mà can đảm sống đức ái, cùng đặt niềm trông cậy kiên vững nơi Ngài.

Lạy Chúa, thân con – người hành khất

Đôi tai và mũi mắt bình thường

Nhưng tâm hồn sao thê lương

Đức tin con muốn tựa nương nơi Ngài.

 

Dẫu hiện tại, tương lai phía trước

Có Ngài luôn cùng bước trung kiên

Đời con theo Chúa nhân hiền

Đức tin cứu chữa, luyện rèn ngày đêm. Amen!

Lm. Xuân Hy Vọng

 

CHÚA NHẬT XXXI THƯỜNG NIÊN

NGÀY 31 THÁNG 11

 

Sống với Chúa và cho tha nhân

Mến chào quý ông bà và anh chị em.

Cầu chúc quý ông bà và anh chị em luôn Bình an và Thiện hảo.

Người ta vẫn thường nói, ta không được chọn nơi mình sinh ra nhưng ta được chọn cách mình sẽ sống. Nhưng để có thể chọn lựa cách sống đúng và tốt nhất thì trước hết chúng ta cần phải tìm hiểu, phải biết điều gì là quan trọng, là thứ yếu. Và dù là người từng trải hiều biết nhiều đi chăng nữa thì có lẽ cũng không ít lần cảm thấy bối rối và thiếu chắc chắn để đưa ra việc chọn lựa của mình. Đây cũng là hình ảnh mà chúng ta được thấy trong bài Tin Mừng hôm nay. “Có người trong nhóm luật sĩ tiến đến Chúa Giê-su và hỏi Người”. Luật sĩ là những chuyên gia về giới luật, thuộc nằm lòng và giải thích cách thức thực hành các giới răn cho dân chúng. Trước khi ghi khắc câu trả lời của Chúa Giê-su, ước gì chúng ta ghi nhớ và noi gương hình ảnh người luật sĩ. Một người luật sĩ không được nhắc tên, phải chăng như để mời gọi chúng ta hãy trở nên chính người luật sĩ đó. Hãy ĐẾN VỚI CHÚA và hỏi Người, hãy CHO CHÚA CƠ HỘI được trả lời những thắc mắc, những bất an trong cuộc sống của chúng ta.

“Trong các giới răn điều nào trọng nhất?” Đã bao giờ bản thân ta tự hỏi về điều này. Đã bao lần chúng ta dành thời gian để suy nghĩ xem : “Trong số những điều được mời gọi thực hiện, điều nào trọng nhất?” “Trong số những tài sản, những ân huệ con đang có điều nào trọng nhất?” “Trong số những dự tính mà con muốn thực hiện điều nào trọng nhất?” …Chắc chắn trong cuộc sống chúng ta sẽ gặp không ít thắc mắc, không ít những điều mà bản thân thiếu tự tin để đưa ra quyết định, và nhất là những vấn đề quan trọng trong cuộc sống … ước gì lúc đó chúng ta như người luật sĩ kia “tiến đến Chúa Giê-su và hỏi Người”.

Cách đây không lâu, trên Facebook của Cha Lộ có đăng câu nói của một ai đó rằng :

“Chỉ có 4 câu hỏi quan trọng nhất trên đời.

Điều gì là thánh thiêng ?

Cái gì tạo nên tinh thần ?

Cái gì đáng để ta sống vì nói ?

Cái gì đang cho ta chết vì nó ?

Chỉ có một câu trả lời chung : TÌNH YÊU”

Và trong bài Tin Mừng hôm nay, khi người luật sĩ hỏi “trong các giới răn điều nào trọng nhất?” thì câu trả lời nhận được cũng chính là TÌNH YÊU. Yêu Chúa trên hết mọi sự và yêu tha nhân như chính mình. Cụ thể, “Giới răn trọng nhất chính là: Hỡi Israel, hãy nghe đây: Thiên Chúa, Chúa chúng ta, là Chúa duy nhất, và ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi.” Chắc là chúng ta đã nghe không biết bao nhiêu lần và nhớ rõ tường tận.

“Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực” nghĩa là gì ? Một lần nữa chúng ta hãy can đảm tiến đến Chúa và hỏi Người. Và Chúa cũng đã trả lời cho chúng ta. “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình” (Ga 15,13). “Thí mạng vì bạn”, dâng mạng sống cho Chúa. Và mạng sống là gì nếu đó không phải là thời gian, là tâm trí là sức lực. Nhưng thử hỏi cuộc sống của tôi có thực sự đặt Thiên Chúa trên hết mọi sự không ? Có lẽ nhiều khi chúng ta cảm thấy thật là khó để mỗi ngày dành một chút thời gian ngồi bên Chúa đọc kinh và nguyện ngẫm, và lại càng khó hơn để kiếm thời gian cả gia đình đọc kinh chung mỗi ngày. Đừng nói không có thời gian, nhưng hãy nói rằng bản thân không có tình yêu dành cho Chúa.

Và nếu không thể yêu Chúa là Đấng dựng nên ta và yêu ta hết lòng, nghĩa là không để “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20), thì chắc chắn chúng ta cũng không thể yêu bản thân một cách đúng đắn, và lại càng không thể yêu tha nhân một cách thực sự được. Và ngược lại, nếu chúng ta thực sự yêu Chúa trên hết mọi sự thì như một lẽ tự nhiên chúng ta cũng sẽ yêu và sống cho tha nhân. Thánh Augustinô khuyên nhủ: “Hãy yêu đi rồi muốn làm gì thì làm”. Tình yêu sẽ cho biết ta phải làm gì. Và như Thánh Phao-lô dạy “Yêu thương là chu toàn Lề Luật” (Rm 13:10).

Chúa Giê-su chỉ cho chúng ta giới răn trọng nhất. Ngài cũng cho chúng ta biết nếu ta sống giới răn đó thì Nước Thiên Chúa đang ở nơi ta. Tin vào Chúa và yêu như Chúa Giê-su đã yêu chính là giới răn mới, giới răn kiện toàn mà Thiên Chúa đã trao tặng chúng ta qua Con Một. Và Ngài tiếp tục yêu thương và mời gọi chúng ta “Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu các con” ( Ga 15, 12 ).

Nhờ sự hướng dẫn và chuyển cầu của Mẹ Maria và các Thánh, noi gương “người trong nhóm luật sĩ” ước gì chúng ta luôn tiến đến Chúa Giê-su và hỏi Người để biết việc phải làm, chuyên cần nhìn lên Thập Giá để cảm nhận Tình yêu và cách thức Yêu mà Ngài đã và đang ban tặng cho chúng ta. Nhờ vậy chúng ta luôn được sống cùng Chúa và sống hết mình cho tha nhân. Amen.

Fx Trần Văn Hoài, OFMConv.