Suy Niệm Lời Chúa-みことばの食卓

CHÚA NHẬT V PHỤC SINH

Ngày 02 tháng 5

Trong Tân Uớc, nhiều hình ảnh đuợc dùng diễn tả mối liên hệ giữa Chúa Kitô và chúng ta là những kẻ thuộc về Nguời – thí dụ như Chúa là đầu, chúng ta là chi thể; Chúa là Mục tử nhân lành, chúng ta là đàn chiên v.v…  Phúc âm Gioan ngày hôm nay lại cho chúng ta một hình ảnh khác qua lời của chính Chúa nói, “Thầy là Cây nho, các con là cành…”  Mỗi hình ảnh diễn tả một góc độ khác nhau trong mối tuơng quan của ta với Chúa : Đầu và chi thể nói lên chỉ có Chúa là thủ lãnh và chúng ta như một chi thể phải hiệp nhất với các chi thể khác; nguời mục tử và con chiên thì nói lên sự yêu thương chăm sóc của Chúa đối với con nguời; còn hình ảnh Cây nho và cành này thì nhấn mạnh ngay đến chuyện phải “sinh trái”! 

Công dụng của cây nho là cho trái nho để ăn và làm rượu, nhưng quan sát một cây nho chúng ta sẽ thấy trái nho không đâm thẳng ra từ chính thân gốc cây nho, mà nảy ra trên những cành thôi. Thế nhưng tự cành nho sống đuợc là nhờ duỡng chất từ thân cây nho chuyển cho, chứ cành không thể tự sống “độc lập tự do” đuợc! Nguời môn đệ nhận đuợc nguồn sống từ Chúa, nhưng là để sinh trái cho đời , chứ không phải để “tự suớng” cho chính mình. Chúa Giêsu cảnh báo rõ rệt, ” Cha thầy là Nguời trồng nho. Cành nào không sinh trái thì Nguời sẽ chặt đi, còn cành nào sinh trái thì Nguời cắt tỉa cho sinh trái nhiều hơn.”  Không cành nào có thể nói với cành khác, “Việc sinh trái là của anh, ráng làm đi – còn tôi thì xin thôi…” vì lý do này lý do nọ! 

Có ai đó đã nói: “To be Christian, is to take responsibility!” (Làm Kitô hữu, có nghĩa là nhận trách nhiệm!) 

Chuyện kể rằng có nguời kia than trách với Chúa rằng, “Bao nhiêu đau khổ, tai uơng đang xảy ra, bao nhiêu điều xấu đang hoành hành – tại sao Chúa lại như ngồi yên mà không làm gì hết vậy?” Nhưng Chúa trả lời, “Ta đâu có ngồi yên. Ta đã tạo ra…con !”

Đối với cây nho thực, nếu cây vẫn xanh tốt mà một cành nào đó bị khô héo thì là vì nó bị sâu bệnh gì đó – nhưng với những cành nho-nguời chúng ta thì không cành nào bị khô héo nếu chính nó đã không muốn “ở lại trong Cây nho.” Thiên Chúa không bao giờ xua đuổi chúng ta, nhưng chúng ta luôn bị cám dỗ muốn lìa xa Nguời. Vì thế, Chúa Giêsu đã khẩn khoản tha thiết với các môn đê., “Hãy ở lại trong Thầy!”, và “Nếu các con ở trong Thầy, và Lời Thầy ở trong các con, thì các con muốn xin gì cứ xin, và các con sẽ đuợc.” Ai đó cũng đã nói về tình yêu như thế này, “To fall in love can be by chance, but to stay in love is a choice.” (Nguời ta yêu nhau có khi vì tình cờ, nhưng ở lại trong tình yêu hẳn là một chọn lựa.)

Tình yêu của Chúa đối với ta thì không phải tình cờ, vì Nguời đã yêu thuơng, đã gọi tên ta từ đời đời – nhưng phần của mỗi ngưòi chúng ta là có chấp nhận tình yêu đó hay không, và có Ở Lại trong Tình Yêu đó hay không!

Gioan X Lộ

LỄ CHÚA THĂNG THIÊN

Ngày 16 tháng 05

Chúa Giê-su được đưa lên Trời, còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi

Các bài đọc trong Thánh Lễ hôm nay có nội dung về sự kiện Chúa Giê-su Ki-tô sau khi Phục Sinh vinh hiển thì trong bốn mươi ngày, Ngài hiện ra với các môn đệ để nâng đỡ đức Tin của các ông, dạy dỗ thêm cho các ông về Nước Thiên Chúa, sai các ông đi rao giảng Tin Mừng, tiếp tục chương trình Cứu độ và cuối cùng Ngài được đưa về Trời trong vinh quang Thiên Chúa.

 Chúa Giê-su được đưa lên Trời

 Bài đọc một Lễ Thăng Thiên của cả ba năm Phụng vụ A,B,C được trích từ mười một câu đầu tiên chương thứ nhất của sách Công vụ Tông đồ (1,1-11). Nơi trình thuật này, Thánh sử Lu-ca tả lại chi tiết biến cố Chúa Giê-su được đưa lên Trời, hay nói cách khác, cuộc vinh thăng trọn vẹn của Chúa Giê-su. Vì thật ra, sau khi Chúa Giê-su sống lại từ cõi chết, Ngài đã được tôn vinh rồi, hay nói cách khác, nhân tính của Ngài đã được vào trong vinh quang của Thiên Chúa rồi. Tuy nhiên vinh quang này vẫn chưa được tỏ hiện và vinh thăng trọn vẹn. Thế nên, Ngài hiện ra với các môn đệ nhiều lần qua dáng vẻ của một người bình thường. Lần hiện ra cuối cùng đánh dấu một bước ngoặt quan trọng. Sau lần hiện ra này, nhân tính của Ngài hoàn toàn được đưa vào trong vinh quang Thiên Chúa, được “ngự bên hữu Đức Chúa Cha”(kinh Tin Kính). 

 Ở đây chúng ta chú ý cách diễn đạt của Kinh Thánh khi nói Chúa Giê-su “được đưa lên trời” là để nói về việc Ngài kết thúc sự hiện diện hữu hình nơi trần gian này và về cùng Thiên Chúa Cha. Vì chúng ta là con người, hiện hữu trong không gian và thời gian, nên có giới hạn trong từ ngữ, nhất là khi trình bày những mầu nhiệm cao siêu. “Trời” mà Thánh sử Lu-ca và các Thánh sử khác nữa muốn nói đến không phải là một nơi chốn cho bằng là một trạng thái. “Trời” cũng không phải là những mơ mộng hão huyền của một cõi không gian nào đó ở thế giới bên kia. Đó cũng chẳng phải là thứ “bánh vẽ” mà Chúa Giê-su hay Giáo hội tự mình nghĩ ra để ru ngủ con người quên đi những thực tại trần thế. “Trời” là nơi Thiên Chúa hiện diện, nơi Tình yêu và vinh quang của Thiên Chúa tỏ hiện.

Có một tư tưởng tôi đọc được như thế này:

“ Muốn quan sát mặt đất, thì hãy trèo lên mái nhà.

Muốn quan sát mái nhà, thì hãy trèo lên ngọn đồi.

Muốn quan sát ngọn đồi, thì hãy trèo lên núi cao.

Muốn quan sát núi cao thì hãy bay lên bầu trời.

Nhưng muốn quan sát bầu trời thì hãy nhắm mắt lại”.

 Muốn cảm nghiệm được Trời cao thì ta phải nhắm mắt lại để cảm nhận. Hóa ra “Trời” không phải ở đâu cao xa mà ở ngay trong tâm hồn chúng ta, khi chúng ta được kết hợp trọn vẹn với Thiên Chúa, là nguồn sự sống vĩnh cửu, hạnh phúc vô biên, nguồn chân thiện mỹ, vinh quang tuyệt đối. Khi nói “Chúa Giê-su được đưa lên Trời” cũng có nghĩa đó là lúc Ngài ngự vào tâm hồn chúng ta. Do đó, Lu-ca mới viết “đang khi Người chúc phúc cho các ông, Người rời khỏi các ông mà lên trời”. Nếu “trời” là một khoảng cách nào xa xôi đó thì làm sao Ngài vừa lên trời vừa chúc phúc cho ta được? Chỉ khi Ngài có chỗ ở trong lòng ta thì ta mới nhận được sự chúc phúc của Ngài. Chúa Giê-su lên trời có nghĩa là Ngài trở về với Chúa Cha, mang theo nhân tính mà Ngài đón nhận khi trở thành con người trong mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể, để từ đó đưa nhân tính ấy kết hợp trọn vẹn với vinh quang Thiên Chúa Ba Ngôi. Và vì Ngài là Đầu của thân thể mầu nhiệm nên khi Ngài được “đưa lên Trời” thì Ngài cũng kéo cả những chi thể của thân thể lên cùng với Ngài, hưởng vinh quang Phục sinh và sự sống đời đời. Đó chính là niềm xác tín, là hy vọng của tất cả chúng ta khi mừng kính Lễ Chúa Thăng Thiên. Vì khi còn sống ở trần gian, Chúa Giê-su đã tiên báo về vinh quang khải hoàn của Ngài khi nói với người Do Thái: “Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu, và biết tôi không tự mình làm bất cứ điều gì, nhưng Chúa Cha đã dạy tôi thế nào, thì tôi nói như vậy” (Ga 8, 28); và trong cuộc đối thoại với ông Ni-cô-đê-mô, Ngài đã nói: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống. Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời.” (Ga 3, 13–15).

 Các Tông đồ ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông

 Chúa Giê-su được đưa vào vinh quang Thiên Chúa, nhưng Ngài vẫn hiện diện với các Tông đồ, đúng như lời Ngài hứa: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Ngài hiện diện bằng cách ban Thánh Thần để cùng các Tông đồ loan báo Tin Mừng cho mọi dân nước. Ngài ở cùng các ông trong các hoạt động, cho các Tông đồ thực hiện các phép lạ đi kèm lời giảng dạy để minh chứng và xác nhận lời các ông rao giảng.

Mừng Lễ Thăng Thiên, chúng ta được mời gọi “ái mộ những sự trên trời”, như ngắm thứ hai trong Năm Sự Mừng. Khi suy niệm về việc “Chúa Giê-su được đưa lên Trời”, ước gì chúng ta cũng hướng tâm trí mình về “trời”, là quê hương thật, là đích điểm hành trình của mỗi Ki-tô hữu chúng ta. Khi hướng lòng về “trời” để yêu mến những giá trị nơi thượng giới, chúng ta ý thức trần gian này chỉ là cõi tạm. Tuy nhiên chúng ta cũng không quên những thực tại nơi trần gian cần được thánh hóa, cần được kết nối với những thực tại trên trời. Chúng ta được mời gọi tiếp tục công trình Cứu độ mà Chúa Giê-su đã khởi đầu và các Tông đồ tiếp nối nơi thế giới này. Ki-tô hữu là những người chân vẫn đạp đất, nhưng đầu phải ngẩng cao và hướng về “trời”. Chúng ta được mời gọi làm cho thế giới này, cụ thể là nơi chúng ta đang sống, học tập, làm việc thấm nhuần những giá trị của Tin Mừng, của “trời”. Do đó, Lễ Thăng Thiên cũng là ngày Lễ để chúng ta ý thức và tái xác nhận vai trò truyền giáo của mỗi người. Nhân loại hôm nay không thấy Chúa Giê-su bằng xương bằng thịt nhưng họ sẽ thấy Ngài qua chúng ta, những môn đệ sống giới răn yêu thương của Ngài.

Trong trình thuật Chúa Thăng Thiên, Thiên thần nói với các môn đệ còn đang mải nhìn về trời khi Chúa Giê-su được cất lên trước mặt các ông: “Hỡi những người Ga-li-lê, sao còn đứng nhìn lên trời?” Lời ấy cũng nói với từng người trong chúng ta hôm nay. Nghi thức sai đi ở phần cuối của mỗi Thánh Lễ, đặc biệt trong Lễ Chúa Thăng Thiên hôm nay nhắc chúng ta sứ mệnh truyền giáo của Giáo hội và của cá nhân mỗi người “Chúc anh chị em đi bình an”. Lời chúc bình an ấy không phải là một thông báo : “hết Lễ rồi, anh chị em có thể đi về nhà hoặc đi chơi, đi mua sắm…” Tham dự Thánh Lễ là lúc ta được nuôi dưỡng bằng “thần lương Thiên Quốc” là chính Thánh Ngôn và Thánh Thể. Kết thúc Thánh Lễ, chúng ta được sai đi để làm chứng cho Chúa Giê-su Phục Sinh, cho “trời” là nơi Ngài được vinh thăng trọn vẹn, và là hạnh phúc vĩnh cửu mà chúng ta hy vọng và hướng tới. Ước gì mỗi người chúng ta cũng trở thành chiếc cầu nối để nối mọi người đến với Chúa Giê-su, và rồi để Ngài đưa tất cả chúng ta lên Trời với Ngài.

Lm An-tôn Vũ Khánh Tường, SVD