Biết để Yêu

— Ngôi Lời —

(Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời …. và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Gioan 1,1)
Khi còn bé, hoặc là từ khi mới học đạo, cũng như qua các bài giảng thuyết của các Linh Mục, chúng ta nghe rất là quen với hai chữ “Ngôi Lời”. Và vì nghe quá quen, cho nên chúng ta không có đặt câu nghi vấn về chữ “Lời” (có mang ý nghĩa như thế nào?).
“Ngôi” là từ ngữ: diễn tả sự kính trọng cho bậc đáng tôn kính, chữ nói lên sự kính trọng dành cho bậc có ngôi vị cao. Thí dụ như: Vua là bậc cao vời vợi đối với dân chúng, cho nên, khi ông ta lên làm Vua, thì ta gọi là lên Ngôi Vua.
“Lời” là chữ Hán, được gép từ 3 bộ lại với nhau. Đó là: bộ “khẩu”, bộ “thiên” và bộ “thượng”. “Khẩu” có nghĩa là “lời nói, tiếng nói”, “thiên” có nghĩa là “trời”, “thượng” có nghĩa là “cao”. Qua 3 bộ: “khẩu” “thiên” “thượng” này, thì ta có thể hiểu được rằng; “Lời” là: “Lời nói của Đấng từ Trời cao”. Nói cách đơn giản, “Lời” là “Tiếng nói của Trời”. Và người Công Giáo Việt Nam đã dùng chữ “Lời” này để diễn tả đó là “Lời nói của Đức Chúa Trời”, đồng thời, cũng có nghĩa là: Ngôi Hai Con Thiên Chúa.
Khi nghe hai chữ Ngôi Lời, thì chúng ta sẽ liên tưởng về Đức Giêsu Kitô, Ngôi Hai Con Thiên Chúa. Vâng! Ngôi Lời là Ngôi Hai, và qua Ngôi Lời, Thiên Chúa đã diễn tả về chính mình. Nói cách khác, Ngôi Lời là một biểu lộ tuyệt diệu về Thiên Chúa. Là một phản ảnh về Chúa Cha. Nghĩa là sao? Nghĩa là: “Ngôi Lời là Ngôi Con của chính mình”. Vì sao? Thưa, vì những gì của Chúa Cha, đều là Chúa Con (= Ngôi Lời là Thiên Chúa). Đoạn Kinh Thánh này khó hiểu. Nhưng, khi ta nhìn lại câu: “Nhờ Người mà muôn vật được tạo thành” trong kinh Tin Kính. Thì chúng ta sẽ hiểu được rằng là: Thiên Chúa là nguồn phát sinh của vạn vật. “Tạo thành” ở đây có nghĩa là: tạo nên “sự sống”, và sự sống này được phát sinh từ Thiên Chúa. Do đó, “sự sống” ở đây là một phản ảnh hữu hình và vô hình của Thiên Chúa.
Trong lịch sử It-ra-en, Lời của Chúa Giêsu cũng chính là Lời của Thiên Chúa. Mà Lời của Thiên Chúa là Lời Hằng Sống, và chúng ta gặp được Lời Hằng Sống này qua chính Chúa Giêsu.
Ngôi Con (= Ngôi Lời) đã làm người, nhưng Người là Thiên Chúa cũng như Chúa Cha. Phúc Âm Thánh Gioan(1,14) ghi lại rằng: “Ngôi Lời thần linh đã trở nên người phàm”. Và đây là nền tảng của mầu nhiệm nhập thể Làm Người. Chúng ta đã học và biết: Ngôi Lời là Ngôi Hai Con Thiên Chúa đã mặc lấy xác phàm làm người (= thái độ hoàn toàn hạ mình). Nhưng, không phải trở thành con người phàm như chúng ta. Phúc Âm Thánh Gioan đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn về mầu nhiệm này — “Con Một vốn là Thiên Chúa(1,18)”. Có nghĩa là: Ngôi Con luôn ở trong cung lòng Chúa Cha – Ngài là Thiên Chúa thật.
———————
Ngôi Lời đã nhập thể làm người. Không phải chỉ để giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi không mà thôi. Nhưng, điều tối trọng nhất là qua sự nhập thể, Người (Ngôi Lời) đã cho chúng ta quyền cùng với Người trở nên con cái Thiên Chúa.

…………………………………………………….

—Tiên Tri

Tiên tri theo nghĩa đen

Tiên có nghĩa là “trước”, Tri là “biết”. Tiên tri có nghĩa là: nói hoặc báo trước một sự việc nào đó sẽ được xảy ra trong tương lai.

Chữ “tiên tri” trong Kinh Thánh

Đọc lại Kinh Thánh, thì chúng ta sẽ thấy: khi các tiên tri nói tiên tri, thì các Ngài đều nhân danh Thiên Chúa để nói cho dân chúng biết. Do đó, tiên tri là những người được Thiên Chua gọi, để nhân danh Thiên Chúa nói cho dân của Ngài biết những sự việc sẽ được xảy ra. “Nhân danh Thiên Chúa nói” có nghĩa là: “các Ngài là những người được Thiên Chúa tuyển chọn để nói thay cho Ngài.

Cuộc đời tiên tri

Đôi khi bố mẹ nói với con cái: “Mày không lo học hành thì chẳng có trường nào nhận mày đâu”. Và khi nói như thế, thì con cái chúng nó ghét lắm. Vì sao? Vì đó là báo trước sự việc không tốt mà đương sự sẽ phải lãnh nhận. Làm tiên tri của Thiên Chúa cũng thế. Dân chúng nó ghét lắm. Tại sao? Vì các Ngài luôn nói lên những “sự thật”. Mà “sự thật” ở đây đó là: vạch trần tội lỗi của dân chúng. Và vì các Ngài nói đọng đến các điều xấu của họ, cho nên dân chúng tìm đủ mọi cách để bách hại các Ngài. Từ ý nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu được rằng: Nếu không có tội lỗi chắc có lẻ sẽ không có sự xuất hiện của các tiên tri.

Tiên tri trong Kinh Thánh

Khi nói đến tiên tri, thì hầu hết chúng ta sẽ liên tưởng đến các tiên tri như là Moysen hoặc là Isaia (v.v) trong thời Cựu Ước. Tóm lại, tiên tri là hai chữ sẽ làm cho chúng ta liên tưởng đến thời Cựu Ước.

Nhưng thật ra thì: Gioan tẩy giả (hoặc là Gioan tiền hô) cũng là tiên tri. Nhưng Gioan tẩy giả là vị tiên tri khác với các tiên tri trong thời Cựu Ước. Khác như thế nào? Vâng! Ngài không chỉ đến để vạch trần tội lỗi của dân chúng. Nhưng, Ngài là vị tiên tri: tiên báo về Đấng Messia, Đấng Cứu Thế sẽ đến.

Chúng ta gọi Đức Giêsu là Thiên Chúa, cho nên đôi khi chúng ta quên rằng Ngài là Đấng tiên tri. Vâng! Đức Giêsu Kitô là tiên tri. Và không phải chỉ là tiên tri như các tiên tri được ghi trong Kinh Thánh. Nhưng chính Ngài là vị tiên tri tối cao. Nghĩa là: tiên tri trên các tiên tri. Ngài là Đấng quyền năng trong lời nói và việc làm. Và “lời” của Ngài chính là “lời” của Thiên Chúa.

※ Hầu hết các tiên tri thường hay đề cập đến các hành vi xấu xa trong quá khứ và hiện tại của dân chúng. Đồng thời, các ngài khuyên dạy họ cần phải chỉnh sửa lại lối sống hiện tại sao cho tốt hơn. Hầu làm nguôi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa. Chúng ta không phải là tiên tri. Nhưng, Thiên Chúa cũng cho chúng ta biết trước hậu qủa sẽ phải lãnh nhận, nếu chúng ta có một lối sống loại bỏ Thiên Chúa. Điều này, ai ai trong chúng ta cũng đều hiểu và biết. Do đó, việc còn lại của bản thân ta là cần phải sống như thế nào, để được Ngài đón nhận chúng ta vào chung hưởng tình yêu Ba Ngôi vĩnh cửu ở đời sau.

…………………………………………

— TÁI SINH —

Là người Kitô hữu thì chúng ta nghe rất là quen thuộc hai chữ “tái sinh”. Và nhờ vào niềm tin tái sinh, mà chúng ta luôn cố gắng sống tốt theo tinh thần Phúc Âm, sống tốt theo tiếng nói của lương tâm, sống tốt theo luân lý. Ngược lại, nếu không có sự tái sinh, thì chắc hẳn chúng ta sẽ sống một cách buông thả. Vì sao? Vì chúng ta đều hiểu rằng: tái sinh là bước bắt đầu cho sự sống thần khí, là bước dẫn đưa chúng ta vào Nước Thiên Chúa.

Tái sinh và Nước Thiên Chúa — Tái sinh là điều kiện cần thiết để nhìn thấy được Nước Thiên Chúa(t.khảo Gioan3,3), đồng thời, đó cũng là điều kiện để vào Nước Thiên Chúa(t.khảo Gioan 3,5). Đây không phải là cách nói mà Giáo Hội tự lập luận. Mà đây chính là Lời của Chúa Giêsu nói với vị thủ lãnh sùng đạo, có tên là Nicôđêmô. Nhưng, tái sinh nghĩa là sao? Làm như thế nào thì gọi là tái sinh? Vâng! Thánh Gioan đã ghi lại rõ lời của Chúa Giêsu nói về tái sinh. Đó là: sinh ra bởi nước và Thánh Thần.

Sự sống của người Kitô hữu — Chúng ta nhận lãnh sự sống xác thịt từ Thiên Chúa được trao ban qua bố mẹ. Đồng thời, chúng ta cũng được lãnh nhận sự sống làm con Thiên Chúa qua Chúa Thánh Thần. Nghĩa là chúng ta có hai sự sống. Đó là: sự sống xác thịt và sự sống thần khí. Chúng ta sống và vạch ra cho mình một hướng đi, cùng mong muốn mọi sự sẽ xảy ra như ý. Nhưng, chúng ta không có thể biết được một cách chính xác về tất cả những gì sẽ xảy ra cho bản thân mình. Nếu cá nhân ta biết chính xác về các biến cố trong tương lai, thì chúng ta sẽ tự định hướng được cho cuộc đời của mình. Nhưng rất tiếc là chúng ta không thể.

Bí Tích Thánh Tẩy = ơn tái sinh — Lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy không có nghĩa là đã bắt đầu sự sống thần khí, nhưng là để bắt đầu bước vào sự sống thần khí. Nhưng, Bí Tích Thánh Tẩy là Bí Tích như thế nào đối với chúng ta? Thưa; Qua Bí Tích Thánh Tẩy: ①chúng ta được trở thành thành viên của Giáo Hội, ②biến đổi chúng ta trở thành chi thể của Chúa Giêsu Kitô, ③cho chúng ta được tái sinh làm con cái Thiên Chúa, và ④giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi. NướcThánh Thần được ghi trên người của thụ nhân đó là: ấn tín vĩnh viễn được ghi trong tâm hồn của người lãnh nhận.

Tái sinh – phát xuất từ đâu? — Hạt lúa mì được gieo vào lòng đất để đâm chồi nảy lộc, và rồi cũng phải héo-khô-tàn và chết. Vì sao? Vì cây lúa mì nhận được sự sống qua hạt giống mục nát. Nhưng, tái sinh thì tồn tại mãi mãi. Vì sao? Vì tái sinh được phát sinh từ hạt giống bất diệt(1Phêrô1,23). Hạt giống bất diệt ở đây có nghĩa là Lời Chúa. Mà Lời Chúa thì tồn tại đến muôn đời muôn thủa.

※ Để mừng ngày chúng ta sinh vào đời, thì chúng ta thường hay tổ chức ăn mừng ngày sinh nhật. Nhưng ngày tái sinh quang trọng thì lại không được nhớ đến cho mấy. Chắc có lẽ đây cũng là điều nói lên sự cảm nghiệm của ta đối với sự tái sinh bất diệt.

………………………………

— QUANG LÂM —

Quang — “Quang” là ánh sáng. Diễn tả sự vinh dự, rực rỡ, vẻ vang.

Lâm — “Lâm” là từ có tính kính trọng. Từ ngữ diễn tả việc từ trên cao: đến (ngự đến), nhìn xuống, chiếu sáng.

Quang Lâm — Quang lâm là cụm từ dùng để tôn vinh (vị) khách đến viếng thăm. Nói lên sự vinh dự và vinh hạnh của bên được đón tiếp, cùng sự vẻ vang và rực rỡ của vị khách đến viếng. Nói các ngắn gọn thì quang lâm có nghĩa là đến trong vinh quang.

Quang lâm — Khái niệm có từ thời Giáo Hội Sơ Khai Giáo Hội sơ khai dùng cụm từ quang lâm để nói lên sự việc Chúa Giêsu sẽ đến lần thứ hai. Lần thứ hai hoàn toàn khác với lần thứ nhất. Lần thứ nhất, Ngài đến trong cảnh cơ hàn. Nhưng lần thứ hai, Ngài sẽ ngự đến trong vinh quang. Và sự việc “lại ngự đến trong vinh quang” này được Giáo Hội Sơ Khai diễn tả bằng hai chữ “quang lâm”.

“Lại ngự đến trong vinh quang” để làm gì? Khi nói đến ngày Chúa Giêsu lại đến, thì chúng ta thường hay liên tưởng đến ngày tận thế. Nhưng biến cố “Chúa Giêsu lại đến” không phải là thời điểm để nói lên ngày vũ trụ đi vào cõi hư vô. Thật sự, chúng ta không rõ sự việc gì sẽ xảy ra trong thời điểm ấy. Nhưng, nếu dành thời gian đọc lại Kinh Thánh, thì chúng ta sẽ biết được: đó là thời điểm Chúa Giêsu lại đến để phán xét nhân loại, và đồng thời, đó cũng là lúc Ngài đến để thiết lập Nước Trời Vĩnh Viễn.

Do đó, “ngày Chúa Giêsu quang lâm” là ①móc điểm chiến thắng cuối cùng của Chúa Giêsu, là ②lúc mọi sự được hoàn tất, là ③thời điểm Chúa Giêsu trao lại Vương Quốc cho Thiên Chúa, và đó chính là giây phút ④muôn loài cúi đầu quy phục Thiên Chúa.

Kinh Thánh nói gì về sự vinh quang này? Theo Phúc Âm Thánh Máccô, thì đó là lúc “mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời bị lay chuyển (13,24-25)”. Vậy thì, sự quang lâm của Chúa Giêsu đâu có gì để gọi là vinh quang đâu? Vì vũ trụ sẽ trở nên tối tăm kia mà? Có thể chúng ta đã gắn ý nghĩa rực rở và vẻ vang vào khái niệm của chữ vinh quang.

Kính thưa Giáo Đoàn! Ngoại trừ Thánh Gioan, thì cả ba Thánh Sử Kinh Thánh đều diễn tả ngày quang lâm tương tự như nhau. Nghĩa là sao? Nghĩa là các Thánh Sử Kinh Thánh muốn cho chúng ta biết rằng: thế giới của loài người sẽ bị tan rã trước sự oai phong của đấng thẩm phán tối cao (trong ngày Đức Chúa Giêsu quang lâm). Và vì Ngài là vị thẩm phán tối cao, cho nên, ngày quang lâm cũng là giây phút Ngài đến để phân tách người lành và kẻ dữ.

Đến lần thứ hai là trong vinh quang – vậy thì phải hiểu như thế nào về lần thứ nhất? Lần thứ nhất, Ngài (Chúa Con) đến trong cảnh cơ hàn để thể hiện sự hạ mình tột cùng của Thiên Chúa. Và đây là đặc thù của Chúa Con – tự hủy bỏ chính mình để được Chúa Cha đón nhận lại (trong Thiên Chúa). Hạ mình như thế nào? Đó là: mặc lấy thân phận làm người. Tuy Ngài mặc lấy thân phận làm người, nhưng bản thân Ngài vẫn ngự cõi Trời cao trong Thiên Chúa.

– – – – – – – – – – – –

※ Thiên Chúa là cõi phát sinh của muôn loài thọ tạo. Thiên Chúa là cõi quay về của muôn loài thọ tạo. Và chúng ta là loài thọ tạo. Xin tạ ơn Thiên Chúa!

 

………………………………

CHÚA NHẬT

Cứ bước vào Thứ Hai của mỗi tuần, thì chúng ta lại mong sao cho ngày Chúa Nhật chóng đến, để có được cơ hội nghỉ ngơi. Vậy thì, ngoài việc nghỉ ngơi phần xác, đối với người Kitô hữu, thì ngày Chúa Nhật có ý nghĩa như thế nào?

Chúa — Trong tiếng Hán, chữ “Chúa” được viết bằng chữ “主(=shu)”. Và chữ “主” này còn được đọc là “Chủ”. Thí dụ như: Công Chúa, Chúa Cứu Thế, Giáo Chủ, địa chủ.

Nhật — Nhật (=日) có nghĩa là: ngày, mặt trời. Thi dụ như: sanh nhật (= kỷ niệm ngày sinh), bách nhật (= trăm ngày sau khi chết, rước sư về cầu siêu), Nhật Bản (= Nước Nhật).

Chúa Nhật — Dựa vào những ý nghĩa trên, thì Chúa Nhật là ngày của Chúa. Và Chúa Nhật còn được gọi là Chủ Nhật.

Chúa Nhật — vị trí trong tuần

Thông thường, chúng ta thường gọi “Thứ Bảy, Chúa Nhật” là những ngày cuối tuần, và Thứ Hai là ngày đầu tuần. Do đó, khi đọc đến những đoạn Kinh Thánh: “Vào ngày thứ nhất trong tuần —”, thì đôi khi chúng ta lại nhầm lẫn đó là Thứ Hai. Cách gọi ngày trong tiếng Việt, có Thứ Hai đến Thứ Bảy, mà Thứ Một lại không có. Bởi thế, Chúa Nhật vừa là ngày đầu tuần, và cũng là ngày cuối tuần.

Ngày đầu tuần — được bắt nguồn từ tập tục ngày mừng lễ mặt trời của những người ngoài Kitô Giáo.

Ngày cuối tuần — đó là ngày Sabat, ngày cấm làm việc xác của người Do Thái.

Chúa Nhật — vị trí trong Phụng Vụ

Luật Giáo Hội cấm chúng ta làm việc xác ngày Chúa Nhật. Vì sao? Vi Giáo Hội muốn tạo cho tín hữu có cơ hội: ➀cử hàng Phụng Vụ, ②kính nhớ và tưởng niệm cuộc thương khó và sự Phục Sinh của Chúa Giêsu.

Do đó, Chúa Nhật là ngày của Cộng Đoàn, ngày được thánh hóa cho Thiên Chúa, ngày để cho tín hữu cảm tạ và thờ phượng Thiên Chúa cách đặc biệt.

Và để có thể thực hiện những việc nói trên một cách tốt đẹp, Giáo Hội đã thánh hóa ngày Chúa Nhật và buộc tín hữu kiên làm việc xác.

Nhưng, tại sao ta nên kiên làm việc xác trong ngày Chúa Nhật? Vì làm việc xác có thể dẫn đến sự cản trở việc thờ phượng Thiên Chúa.

Chúa Nhật — móc điểm vượt thời gian

Ngoài những ý trên, Chúa Nhật còn có nghĩa là: ①ngày đầu tiên của công trình tạo dựng, ②ngày Chúa Giêsu lại ngự đến trong vinh quang (= ngày cánh chung), ③ngày nền tảng, ngày Lễ trung tâm của các ngày Lễ trong năm Phụng Vụ.

  • Việc dự Lễ ngày Chúa Nhật và không làm việc xác ngày Chúa Nhật, đã đủ ý nghĩa sống cho ngày Chúa Nhật đối với người Kitô hữu chưa? Nếu chưa, thì như thế nào thì gọi là đủ? Đây là bài tập của mỗi một cá nhân ta. Chỉ có bản thân ta mới có câu trả lời chính xác. Vì sao? Vì hồng ân Ngài ban, điều kiện vật chất và tinh thần trong hiện tại, môi trường đang được đặt để, hoàn cảnh (v.v) của mỗi một cá nhân ta đều khác nhau, do đó, có thể sẽ không có câu trả lời mẫu tuyệt đối chung chung cho từng mỗi một tín hữu. Giống như việc ta dâng cúng cho Nhà Chúa. Không có “bảng giá đủ thiếu”. Nhưng tùy vào những điều kiện mà ta đã và đang nhận được từ Thiên Chúa.

…………………………………………..

 

TIỆC LY

Tiệc   Thông thường thì “tiệc” là bữa ăn (bữa cơm) có nhiều món ngon lạ vào một dịp vui nào đó. Thí dụ như: tiệc trà, tiệc cưới, tiệc mừng nhà mới, tiệc sinh nhật, v.v.

Ly   “Ly” có nghĩa là: chia lìa, chia cách, tách rời, v.v. Một vài chữ cùng nghĩa; thí dụ như: phân ly, ly biệt, ly dị, ly hôn, v.v.

Tiệc Ly   Dựa theo hai nội dung trên, thì tiệc ly có nghĩa là bữa (ăn) chia tay. Vậy thì, “Tiệc Ly” được ghi lại trong Kinh Thánh, có ý nghĩa gì khác với nội dung này không? Trong tiếng Nhật, Tiệc Ly được diễn tả qua cụm từ “saigo no bansan” (最後の晩餐 = tối hậu vãn xan). “Tối” là “nhất” (thí dụ: tối thiểu, tối đa, tối cao). “Hậu” là “sau, cuối”. “Tối hậu” có nghĩa là: “sau nhất, cuối nhất, sau cùng, cuối cùng”. “Vãn” có nghĩa là “tối, đêm”. “Xan” có nghĩa “bữa (ăn)”.

Bữa (ăn) này được dùng vào ban đêm, cho nên được gọi và “bữa (ăn) tối”. Đồng thời, sau bữa (ăn) này, Chúa Giêsu không còn dùng thêm một bữa (ăn) nào khác với các Môn Đệ nữa cả, do đó, đây là “bữa (ăn) cuối cùng”. Tóm lại, “Tiệc Ly” là “bữa “ăn” tối cuối cùng”, mà Chúa Giêsu dùng với các Môn Đệ, trước khi Ngài bước vào cuộc thương khó.

Rửa chân” cho các Môn Đệ — trong Tiệc Ly

Vào thời bấy giờ, “rửa chân”, là công việc của: người giúp việc, người đầy tớ. Nhưng, Chúa Giêsu làm việc này, nhằm mục đích để chỉ dạy cho chúng ta biết rằng: Ta đến để phục vụ, chứ không phải để được phục vụ. Và hơn thế nữa, chẳng phải chỉ phục vụ như những người tôi tớ bình thường, mà đây là dấu chỉ: thật sự phục vụ người mình yêu, phục vụ cho đến chết. Nghĩa là: hy sinh cả mạng sống mình cho người mình yêu.

Hãy “làm việc này” mà nhớ đến ta — điều Chúa Giêsu truyền dạy trong Tiệc Ly

Vì quá yêu thương nhân loại, muốn mãi mãi ở bên cạnh con người, cho chúng ta có cơ hội được ở bên cạnh Ngài, cho nên, Chúa Giêsu đã lập ra Bí Tích Thánh Thể và Chức Linh Mục.

Khi yêu, thì sẽ nảy sinh ra nhiều sáng kiến. Và đây là một sáng kiến tuyệt diệu, một sáng kiến tạo ra “sự hiện diện mới” của Ngài với nhân loại, một hiện diện mãi mãi tồn tại cho đến ngày Ngài lại quang lâm.

Do đó, “làm việc này” không phải chỉ để tưởng nhớ không mà thôi. Nhưng, “làm việc này”, đó là: một Phụng Vụ “hiện tại hóa sự hiện diện của Chúa Giêsu giữa thế gian”.

 

Mối tương quan” của Chúa Giêsu với Chúa Cha — được tỏ lộ trong Tiệc Ly

  Chúa Giêsu có thể từ chối chén đắng. Nhưng để tỏ lộ cho chúng ta thấy rõ mối tương quan của Ngài với Chúa Cha. Cho nên, Ngài đã nói với các Môn Đệ: “Ta yêu mến Chúa Cha, và làm đúng theo những gì Chúa Cha truyền”. Và qua Chúa Giêsu, chúng ta biết được: Danh Chúa Cha, nhận lãnh tình yêu của Chúa Cha thông qua Chúa Giêsu.

Kính Thưa Giáo Đoàn. Cố gắng sống thánh thiện có hai dạng (đây chỉ là suy nghĩ cá nhân). Dạng thứ nhất đó là: sợ bị trừng phạt và mong được thưởng ở đời sau. Dạng còn lại là: không phải vì sự thưởng phạt, nhưng, vì ta yêu mến Thiên Chúa. Đây là cách sống thánh thiện noi gương Chúa Giêsu: “Ta yêu mến Chúa Cha, và làm đúng theo những gì Chúa Cha truyền”. Ước gì chúng ta biết sống thánh thiện, vì lòng yêu mến Thiên Chúa, chứ không phải vì sự thưởng phạt.

 

……………………………………………..

— ÂM PHỦ —

Âm   “Âm” là: bóng tối, sự đen tối, nơi tối tăm, chốn thinh lặng, cõi chết, thế giới của người chết. Vài cụm từ có chữ “âm” tương tự; thí dụ như: âm hồn (= hồn người chết), âm mưu (= mưu kế bí mật, mưu kế đen tối), âm kế (= kế hoạch bí mật), v.v.

Phủ   “Phủ” là khu vực, vùng đất đã được chia, quan tự. Thí dụ như: cung phủ (= vương cung quan cảnh), tiên phủ (= cõi tiên), địa phủ (= âm phủ), v.v. Trong tiếng Nhật, chúng ta có chữ: mạc phủ (= quân phiệt nắm giữ chính quyền thời minh trị), Osaka-fu (= Osaka là một trong các thành phố lớn và quan trọng).

Âm Phủ — theo Kinh Thánh   Theo Kinh Thánh thì; Âm Phủ là một “nơi” bao trùm tràn đầy tối tăm, chốn tràn ngập sự thinh lặng, khoảng không gian trú ngụ của những người chết: bao gồm cả người lành lẫn kẻ dữ, v.v. Cũng có đoạn diễn tả là: một nơi bị Thiên Chúa lãng quên. Nhưng Kinh Thánh cũng khẳng định rằng: Thiên Chúa sẽ làm cho những trung thành với Ngài nơi Âm Phủ được sống lại.

Âm Phủ – Trước thời điểm Chúa Giêsu xuống thế làm người.

Trước thời điểm Chúa Giêsu cứu chuộc nhân loại, thì người lành lẫn kẻ dữ, sau khi chết, được ở một “nơi” để chờ phán xét. Nơi ấy được gọi là Âm Phủ (hoặc là Ngục Tổ Tông).

Chúa Giêsu, Ngài chính là Đấng Cứu Chuộc tội lỗi nhân loại. Cho nên, sau khi chết, Ngài đã xuống Âm Phủ để loan báo tin mừng, và giải thoát những người công chính đang bị tạm gian cầm. Do đó, Công Cuộc Cứu Chuộc nhân loại, không phải chỉ dành cho những người đang sống từ thời điểm Chúa Giêsu không mà thôi. Mà là cho cả cha ông tổ tiên đã qua đời, trước thời điểm Chúa Giêsu xuống thế làm người.

Âm Phủ – Nơi chờ đợi phán xét

Chúa Giêsu xuống Âm Phủ để giải thoát những người công chính. Trái lại, những người không công chính, thì không được giải thoát. Nghĩa là: có thưởng, có phạt. Sự thưởng phạt này được diễn tả qua hai cụm từ: Thiên Đàng (= thưởng) và Hỏa Ngục (= phạt).

Chết xuống Âm Phủ – Có hay không?

Vậy thì, ngày nay, Âm Phủ có còn tồn tại hay không ? Việc này chúng ta không được rõ cho lắm. Vì không thấy Kinh Thánh đề cập đến. Nhưng có thể là không còn nữa. Vì Công Cuộc Cứu Chuộc nhân loại đã được hoàn tất qua Chúa Giêsu. Do đó, sau khi chết thì linh hồn ta phải chịu phán xét. Để “được thưởng”, “phạt” hoặc cần phải “luyện tội” (= vào luyện ngục).

※ Chúng ta, đôi khi có khuynh hướng tự cho mình là người tốt, hoặc không xấu. Nhưng giả sử, nếu Chúa gọi ta ngay trong giây phút này. Thì những cái “tốt xấu” hiện tại mà ta đang có. Đủ để được thưởng chưa? Nếu chưa. Thì chỉ còn một trong hai “nơi” nói trên mà thôi (“Nơi” ở đây không nằm trong một vị trí không gian, mà là “trạng thái”). Vì Âm Phủ có thể không còn, để cho ta vào trú ngụ, chờ đợi Chúa Giêsu đến giải thoát.

 

…………………………………………..

— ĐỨC CẬY —

  Năm Thánh Lòng Thương Xót Chúa, cũng là khoảng thời gian mà Giáo Hội tạo cho chúng ta có được cơ hội: nhìn lại và thật sự cảm nghiệm được Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, đã dành cho nhân loại, cũng như cho chính bản thân của mỗi một cá nhân ta. Hầu mỗi một tín hữu, có dịp tái quyết tâm, cùng thật lòng tin tưởng vào Thiên Chúa, hầu được Ngài thương xót chúng ta nhiều hơn nữa.

  Nhưng, để có thể tin tưởng vào Thiên Chúa, thì cần phải có Đức Cậy. Vậy, Đức Cậy là nhân đức như thế nào?

Đức Cậy

  “Đức” là: “ơn”. “Cậy” là: “tin tưởng, phó thác, cậy trông, nương tựa”. Đức Cậy là: ơn tin tưởng, ơn phó thác. Ơn giúp chúng ta biết tin tưởng, biết phó thác.

  Là người Kitô hữu, thì ai ai trong chúng ta, cũng đã được lãnh nhận Đức Cậy. Vì sao? Vì khi nhận lãnh Bí Tích Thanh Tẩy, chúng ta được Thiên Chúa ban cho chúng ta Đức Cậy.

Thiên Chúa ban cho chúng ta Đức Cậy để làm gì?

  Ngài ban cho chúng ta Đức Cậy, để chúng ta biết: tin tưởng trông mong vào Nước Trời. Mà Nước Trời là nơi có sự sống vĩnh cửu. Do đó, tin tưởng trông mong vào Nước Trời, có nghĩa rằng là: tin tưởng trông mong vào đời sống vĩnh cửu của đời sau. Nước Trời và đời sống vĩnh cửu là hai điều được mặc khải qua Chúa Giêsu Kitô.

  Vì thế, tin tưởng trông mong vào Nước Trời, tin tưởng trông mong vào đời sống vĩnh cửu của đời sau, cũng có nghĩa rằng là: chúng ta cần phải tin tưởng và đặt niềm tín thác vào các Lời Hứa của Chúa Giêsu Kitô. Mà Chúa Giêsu Kitô và Chúa Thánh Thần là một, cùng một bản thể. Cho nên, khi ta tin tưởng đặt niềm tín thác vào các Lời Hứa của Chúa Giêsu Kitô, thì có nghĩa rằng là; chúng ta cần phải: tin tưởng nương tựa vào các ân huệ của Chúa Thánh Thần.

  Tóm lại, Thiên Chúa ban cho chúng ta Đức Cậy, để chúng ta biết: tin tưởng trông mong vào Nước Trời, tin tưởng trông mong vào đời sống vĩnh cửu của đời sau, tin tưởng đặt niềm tín thác vào các Lời Hứa của Chúa Giêsu Kitô, tin tưởng cậy trông nương tựa vào các ân huệ của Chúa Thánh Thần.

Tại sao chúng ta cần phải có Đức Cậy?

  Chúng ta cần phải có Đức Cậy vì: Đức Cậy là điều kiện cần thiết để được Ơn Cứu Rỗi. Vì sao? Vì Đức Cậy: bảo vệ chúng ta khỏi thất vọng, nâng đở chúng ta khi chúng ta bị bỏ rơi, giúp chúng ta thêm phấn khởi trên đường trông mong hướng về Nước Trời, giải thoát chúng ta khỏi lòng ích kỷ, dẫn đưa chúng ta đến niềm hạnh phúc của Đức Mến.

Đức Cậy trong Năm Thánh Lòng Thương Xót Chúa

  Trong Năm Thánh Lòng Thương Xót Chúa, chúng ta có cơ hội tái xác nhận lại Lòng Thương Xót của Thiên Chúa đã, đang, và vẫn tiếp tục tuôn đổ trên mỗi một cá nhân ta. Do đó, chúng ta cần phải thật lòng tin tưởng và phó thác cuộc đời của chúng ta trong tay Chúa. Nếu chúng ta thật lòng tin tưởng vào Thiên Chúa, thì sẽ được Thiên Chúa chúc phúc. Vì Chúa Giêsu đã phán rằng: Phúc cho những ai không thấy mà tin. Mà Nước Trời và đời sống vĩnh cửu là hai điều mà chúng ta chưa hề được nghe thấy. Và nếu chúng ta biết tin tưởng và phó thác cuộc đời của chúng ta trong tay Chúa, thì chúng ta sẽ cảm thấy cuộc sống vất vả ở trần gian này được nhẹ nhàng hơn. Vì Chúa Giêsu đã phán dạy: Ách của Ta thì êm ái, và gánh của Ta thì nhẹ nhàng.

 

…………………………………..

– Đức Mến –

(trích một phần lời dẫn trong giờ hành hương qua Cửa Thánh trong ngày Đại Hội Năm Thánh Lòng Thương Xót Chúa tại Nibuno)

  Năm Thánh Lòng Thương Xót Chúa, cũng là dịp, mà Giáo Hội mời gọi chúng ta hãy nhớ lại: Lòng Thương Xót của Thiên Chúa đã dành cho chúng ta. Đồng thời, Giáo Hội mời gọi mỗi một cá nhân ta, cần phải “yêu mến” Thiên Chúa nhiều hơn nữa, để đền đáp lại tình yêu mà Thiên Chúa đã tuôn đổ trên chúng ta.

  Nhưng để yêu mến Thiên Chúa thì cần phải có “Đức Mến”. Đức Mến là nhân đức như thế nào? “Đức” là: “ơn”. “Mến” là: “yêu mến”, “yêu thương”. Đức Mến là: “ơn yêu mến”, “ơn yêu thương”. Ơn giúp chúng ta: biết yêu mến, biết yêu thương.

  Là người Kitô hữu, thì ai ai trong chúng ta cũng đều đã được lãnh nhận Đức Mến. Vì sao? Vì khi lãnh nhận Bí Tích Thanh Tẩy, thì chúng ta được Thiên Chúa ban cho chúng ta Đức Mến. Thiên Chúa ban cho chúng ta Đức Mến để làm gì? Vâng! Ngài ban cho chúng ta Đức Mến, để chúng ta biết: yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự, và yêu thương tha nhân như chính mình.

  Yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự. Làm sao có thể làm được việc này? Vì bản thân ta, vẫn luôn yêu thích: tiền, tình, tài, địa vị, danh vọng, chức vụ,,, kia mà! Yêu thương tha nhân như chính mình. Làm sao có thể thực hiện được việc này? Vì ta cần phải yêu ta trước, cần phải lo cho phận của ta trước đã chứ! Vâng, vì là điều khó thực hiện, do đó, cần phải có “ơn” từ trên ban xuống, “ơn” của Thiên Chúa trợ giúp cho thì chúng ta mới có thể làm được.

  Đức Mến là: ơn yêu mến, ơn yêu thương. Mà Thiên Chúa là tình yêu. Do đó, Đức Mến được bắt nguồn từ Thiên Chúa.

  Đức Mến là một trong ba nhân đức đối thần. Ba nhân đức đối thần đó là: Đức Tin, Đức cậy và Đức Mến. Nhưng, Đức Mến là nhân đức cao trọng hơn mọi nhân đức. Vì sao? Vì Đức Mến bao gồm cùng liên kết những nhân đức khác, và làm cho những nhân đức khác được trở nên hoàn hảo hơn.

  Thánh Gioan đã am hiểu về Đức Mến một cách thật là sâu sắc. Cụ thể là; trong Thư Thứ Nhất, Ngài đã chỉ dạy cho chúng ta rằng: Ai ở lại trong tình yêu, là ở lại trong Thiên Chúa. Vì sao? Vì Thiên Chúa là tình yêu. Và Ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng phải yêu thương những người anh em của mình. Vì sao? Vì hình ảnh của Thiên Chúa được diễn tả qua hình ảnh của những người anh em của chúng ta.

  Chúa Giêsu Kitô, Đấng tình yêu, đã nói gì về Đức Mến? Ngài đã tóm gọn Mười Điều Răn Đức Chúa Trời trong Đức Mến. Và Ngài gọi Đức Mến là Điều Răn Mới. Đó là: Mến Chúa, yêu người, trọn Mười Điều Răn. Và đó là dấu chỉ nói lên rằng là: chúng ta là môn đệ của Ngài. Vì Chúa Giêsu đã phán rằng; người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ của ta, đó là: các con hãy yêu thương nhau.

————————————–

  Ước gì trong Năm Thánh Lòng Thương Xót Chúa, chúng ta biết làm cho Đức Mến của mỗi một cá nhân ta, ngày một trở nên phát triển hơn, trưởng thành hơn, hầu có thể: yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự, và yêu thương tha nhân như chính Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta.

 

…………………………………………

LÀM DẤU THÁNH GIÁ-

Chúng ta thường hay làm dấu Thánh Giá trước những buổi Phụng Vụ, giờ kinh, trước ảnh tượng Thánh, tại địa điểm Thánh, hoặc trong những khi gặp khó khăn (v.v).

  Có thể, cử chỉ ấy đã trở thành thói quen đối với chúng ta. Ngược lại, đôi khi chúng ta cũng lắm lúc e ngại với cử chỉ làm dấu Thánh Giá ở những nơi công cộng, hoặc tại những địa điểm tụ tập đông người, không liên quan đến tôn giáo.

  Tại sao vậy? Và cử chỉ làm dấu Thánh Giá có ý nghĩa như thế nào?

Ý nghĩa chính   Làm dấu Thánh Giá là hành động; tuyên xưng mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, đó là: Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần, cũng là hành động tuyên xưng Đức Tin. Là cử chỉ nói lên sự tưởng nhớ Ơn Cứu Độ. Nhưng, Ơn Cứu Độ là Ơn như thế nào? Vâng, Ơn Cứu Độ là Ơn Thiên Chúa Cu Chuc loài người khi ách ti li, được chính Chúa Giêsu thực hiện qua “cái chết trên Thập Tự Giá và sự Phục Sinh”.

Vài ý nghĩa khác   Ngoài hai ý nghĩa chính được nêu lên ở phần trên. Hành vi làm dấu Thánh Giá còn mang nhiều ý nghĩa khác nữa, mà đôi khi chúng ta chỉ thực hiện theo thói quen, ít có suy nghĩ về ý nghĩa của cử chỉ mà ta thực hiện.

  Thí dụ: ①Trước bữa ăn, ta làm dấu Thánh Giá, thì có nghĩa là “cảm tạ”. ②Những lúc gặp khó khăn, ta làm dấu Thánh Giá, thì có nghĩa là xin Thiên Chúa “trợ giúp”. ③Trước một cuộc họp, ta làm dấu Thánh Giá, có nghĩa là xin Thiên Chúa “chúc lành”. ④Trước giờ tôn vinh, ta làm dấu Thánh Gía, có nghĩa là “ngợi khen” Thiên Chúa (v.v).

Học hỏi từ các cầu thủ thể thao  Một số cầu thủ thể thao, nhất là các cầu thủ bóng đá Công Giáo Châu Âu. Sau khi ghi được bàn, cho dù là nơi công cộng, chẳng có bao nhiêu người Công Giáo cả, và dẫu biết rằng là hình ảnh của mình sẽ được truyền đi khắp toàn cầu, họ vẫn mạnh dạng làm dấu Thánh Gía. Cử chỉ làm dấu Thánh Gía thật là vội vàng, trong thời gian khoảng chỉ 1 giây. Nhưng đó là một dấu chỉ được bộc phát từ những tinh kết ca đi sng Đc Tin trong quá khứ và hiện tại.

—————

  Hy vọng mỗi một cá nhân ta sẽ mạnh dạng, không e ngại, khi làm dấu Thánh Giá, cho dù là ở những nơi công cộng, hoặc chỗ đông người. Vì đó là cơ hội để ta tuyên xưng Mầu Nhiệm Ba Ngôi, cùng tưởng nhớ Ơn Cứu Độ, mà không cần diễn tả bằng ngôn ngữ.

 

……………………………………..

– Tội Trọng –

  Bản thân ta, đôi khi có thái độ sống dựa theo ánh mắt của những người khác, hơn là vì Thiên Chúa. Giả sử như: nếu mà ta phạm tội trọng thì sẽ bị mù, hoặc sẽ mang một hiện tượng khác dị nào đó trên cơ thể, mà người khác có thể nhìn thấy được, thì chắc hẳng, ta sẽ rất là cố gắng tránh phạm tội trọng.

Điều này, cũng có nghĩa là: chắc có lẽ là ta sợ người khác biết ta phạm tội trọng, hơn là sợ Thiên Chúa biết.

Tội:  “Tội” là hành vi vi phạm hoặc là hành vi trái với: luật pháp, luật định, luật buộc, luật cấm, Sáu Điều Răn Hội Thánh, Mười Điều Răn Đức Chúa Trời.

Trọng:  Chữ “trọng” diễn tả: mức độ, tầm cỡ, tính chất của sự nghiêm trọng, trầm trọng, nặng nhẹ.

Tội trọng:  Nói một cách ngắn gọn thì: tội trọng là hành vi vi phạm đến luật định có tính chất nghiêm trọng.

Phán đoán “trọng” “nhẹ” cho bản thân:  Để phân biệt cùng phán đoán là tội trọng hay tội nhẹ, thì ta nên dựa theo Mười Điều Răn Đức Chúa Trời và Sáu Điều Răn Hội Thánh. Tất nhiên, nếu chỉ dựa vào yếu tố điều luật, thì chưa đủ để xác định là trọng hay nhẹ. Nhưng, cần phải suy xét về trạng huống khi phạm tội.

Để trở thành tội trọng, thì bản chất của tội phải là tội trọng. Đồng thời, hành động tự vi phạm ấy phải có một ý thức đầy đủ, phải ở trong một trạng thái hoàn toàn tự do, không bị ép buộc, với một lý trí không bệnh hoạn, và có chủ ý ưng thuận.

Luật & sự cố tình:  Thông thường, “luật” thì thường hay có mang tính chất nghiêm trọng. Thí dụ như: “chớ giết người”, “chớ muốn vợ chồng người”, thì có luật cấm. Còn việc “đi lễ trễ”, “ngủ gật trong giờ kinh nguyện”, thì không có luật đề cập đến.

Do đó, khi phạm luật mà có “sự cố tình”, thì có khả năng trở thành tội trọng. “Cố tình” có nghĩa là: ta hành động trong hoàn toàn tự do, không bị ép buộc và có đầy đủ ý thức.

Khả năng được giảm thiểu:  Chỉ là khả năng được giảm thiểu tính chất nghiêm trọng mà thôi, chứ không có nghĩa là “không bị mắc tội”. Vì lương tâm là chuẩn phân biệt thiện ác. Tùy trường hợp, mà tính nghiêm trọng của tội có khả năng được giảm thiểu. Thí dụ như: thiếu hiểu biết, không được biết đến, bị ép buộc, do sự tình cờ ngẫu nhiên gây ra, vì sự nhầm lẫn, phát sinh ngoài ý muốn (v.v).

Trong những tình huống như trên, thì tính chất nghiêm trọng có thể được giảm thiểu, hoặc được xóa bỏ.

Nhưng, không nên viện những cớ này để tự biện minh là “không bị phạm tội”. Vì lương tâm của mỗi cá nhân, hiểu được những luật định tự nhiên, biết rõ về những luân lý trong luật định tự nhiên, cùng hiểu biết rõ về nguyên tắc của luật luân lý.

Tính chất nghiêm trọng:  Thí dụ: Có một người dân tộc vô học thức và một luật sư danh tiếng, cùng phạm một tội trọng như nhau, trong một tình huống không bệnh hoạn về mặt tâm thần, hành động trong hoàn toàn tự do và đầy đủ ý thức, thì chắc hẳng tính chất nghiêm trọng của tội sẽ khác nhau. Có nghĩa là: tính chất  nghiêm trọng là tùy vào phẩm vị của đối tượng xúc phạm.

Kết:  Chúng ta nên biết về tội, để hướng dẫn cho những người anh chị em của chúng ta, và sống theo như chúng ta đã hướng dẫn. Không nên xét đoán tha nhân. Vì chúng ta không có tư cách. Xét xử là việc của Thiên Chúa.

…………………………………………………………………………

– XƯNG TỘI –

Xưng tội   “Xưng” là “nói ra”, là “thú nhận”. “Tội” là những “lỗi (lầm)”, những “tội phạm” đối với luật cấm hoặc luật buộc phải tuân giữ. Xưng tội là nói ra, là thú nhận những lỗi, những tội mà ta đã xúc phạm đến Thiên Chúa và tha nhân.

Để được sạch tội   Để được sạch tội thì cần phải “xưng tội”. Xưng tội là một trong bốn bước của Bí Tích Hòa Giải. Và để lãnh nhận Bí Tích Hòa Giải một cách hoàn thiện, thì chúng ta cần phải thật lòng thực hiện các bước: xét mình, ăn năn tội, xưng tội làm việc đền tội.

Ơn tha tội   Thường thì ta xưng tội với các Linh Mục, cho nên ta có cảm tưởng như là Linh Mục ban ơn tha tội cho ta. Các Thừa Tác Vụ Giao Hòa (Linh Mục, Đức Giám Mục) không có quyền tha tội. Các Ngài là những người đại diện cho Thiên Chúa, có năng quyền chuyển thông ơn tha tội từ Thiên Chúa đến cho hối nhân (mà thôi). Đôi khi chúng ta ngại đến xưng tội với Linh Mục biết rõ về ta. Ví sợ Ngài nghĩ xấu về ta. Đừng ngại. Thiên Chúa là Đấng nhân hậu, giàu lòng thương xót, luôn ban ơn tha tội cho chúng ta qua các Vị Thừa Tác Vụ Giao Hòa (mà không phân biệt là Thừa Tác Vụ quen hay xa lạ).

Năng quyền chuyển thông ơn tha tội   Năng quyền chuyển thông ơn tha tội này được chính Chúa Giêsu trao ban cho các Tông Đồ và những Vị kế nhiệm của Ngài.

Ý nghĩa của việc xưng tội   ①Xưng tội nghĩa là thú nhận những lỗi lầm trước tôn nhan Thiên Chúa. Và khi ta thật lòng xưng tội cùng dốc lòng chừa, thì sẽ lãnh nhận được ơn tha tội. ②Việc xưng tội không chỉ nhằm mục đích chỉ để được sạch tội không mà thôi. Nhưng, khi ta thật lòng xưng tội, đó chính là hành vi ta tuyên xưng: lòng nhân từ, sự công minhsự thánh thiện của Thiên Chúa.

Cần xưng tội khi nào?   Nếu một năm ta chỉ tắm một lần, thì chắc hẳn ta không thể chịu đựng được, và cũng không một ai muốn ở bên cạnh của ta.

  Khi biết rằng: ta sẽ có cơ hội ở bên cạnh người ta yêu, thì trước đó, ta đã tắm rửa sạch sẽ cùng bôi xức nước hoa v.v.

Vậy thì, để ở bên cạnh Đấng Cực Thánh, thì ta cần phải như thế nào?

 

…………………………………..

 – THÁNH GIÁ –

Khái quát về nguồn gốc:   Thánh Giá là cụm từ bắt nguồn từ chữ “Thập Tự Giá”. Thập Tự Giá là dụng cụ dùng để tra tấn, cùng tử hình những người bị coi là tội nhân (phải chịu án tử hình) trong thời Đế Quốc La Mã. Nhưng, án này hầu hết là chỉ để áp dụng cho những phạm nhân (bị án tử hình) không phải là công dân của người Rôma.

Nghĩa của chữ Thập Tự Giá:   Thập Tự Giá được làm bằng cây (gỗ). “Thập” là chữ “十 = juu = thập = mười”. Nhưng trong cụm từ gốc thì có thêm nghĩa là “hình chữ T”. “Tự” có nghĩa là “字 = ji = tự = chữ”. “Giá” có nghĩa là ” treo”, chữ Hán là “架 = ka”. Phần trên là chữ “加 = gia = ka”, có nghĩa là: thêm vào, nhập vào, tham gia. Phần dưới là chữ “木 = ki = mộc = gỗ”. Do dó, “giá” cũng có nghĩa là “khung gỗ”. Dựa vào những ý nghĩa trên, Thập Tự Giá có nghĩa là: “khung gỗ có hình chữ Thập hoặc chữ T”.

Mục đích của án tử hình Thập Tự Giá   Thập Tự Giá là dụng cụ được áp dụng trong án tử hình đối với những người được coi là tội nhân. Do đó, Thập Tự Giá là biểu tượng của: sự đau khổ, ô nhục và sự chết. Đồng thời, án tử hình Thập Tự Giá cũng là hình thức để răn đe những người nô lệ (không phải là công dân của người Rôma). Và chính Chúa Giêsu Kitô cũng đã phải lãnh nhận cái chết nhục nhã nhất của triều đại Đế Quốc La Mã thời bấy giờ.

Thánh Giá   “Thánh” là “thần linh”, “Giá” là “khung hình gỗ”. Thánh Giá là “khung hình gỗ thần linh”. Từ khi Chúa Giêsu Kitô hiến mình trên Thập Tự Giá, thì Thập Tự Giá đã trở thành “Thánh Giá”. Vì sao? Vì Ngài đã biến đổi sự “đau khổ” trở thành “hy vọng”, “sự ô nhục” trở thành “vinh quang”, “sự chết” trở thành “sự sống = phục sinh”. Do đó, Thánh Giá là biểu tưong của: tình yêu, sự hy sinh và ơn cứu độ ( đã được hoàn tất trên Thánh Giá qua chính chúa Giêsu).

Thánh Giá mời gọi ta điều gì?   Thánh Giá mời gọi mỗi một cá nhân ta: hãy chết cho tội lỗi (qua Bí Tích Thanh Tẩy) theo gương Chúa Giêsu.

Vác Thánh Giá   Thiên Chúa trao cho mỗi một cá nhân một cây Thánh Giá để vác. Nhưng đôi khi ta nghĩ rằng: “cây Thánh Giá của ta nặng hơn cây Thánh Giá của những người khác”. Nhưng nếu, ai ai cũng nghĩ như thế, thì cây Thánh Giá của ai là cây nặng nhất nhỉ? Này bạn, hãy an tâm. Thiên Chúa là Đấng tuyệt đối công bằng. Do đó, Thánh Giá mà Ngài trao ban đến cho mỗi một cá nhân, tất nhiên cũng phải tuyệt đối công bằng.

……………………………………………………………………

-Cầu Nguyện-

  Lắm lúc chúng ta có thói quen cầu nguyện, khấn xin, khi gặp phải khó khăn trong cuộc sống. Nhưng, cầu nguyện có phải là chỉ để xin một điều nào đó không thôi hay sao?

Cầu:   “Cầu” có nghĩa là “xin” một, hoặc vài điều mà mình mong muốn. Thí dụ như chữ “cầu hôn”. Cầu hônxin được kết hôn. Hoặc là chữ “Lễ cầu hồn”. Lễ cầu hồn là l xin cho một linh hồn (sớm được hưởng dung nhan của Thiên Chúa = sớm được lên Thiên Đàng).

Nguyện:   “Nguyện” có nghĩa là “mong” (ước) được như ý. Thí dụ như chữ “nguyện vọng”. Nguyện vọngmong (ước) được như (ước) vọng. Hay là chữ “nguyện ước”. Nguyện ướcmong (ước) được như sự ước muốn.

Cầu nguyện:   “Cầu nguyện” theo nghĩa thông thường có nghĩa là: “xin được như sự mong ước”. Chúng ta thường hay cầu nguyện trong những trạng huống khó khăn vượt quá khả năng của bản thân. Và chúng ta cũng có khuynh hướng cầu nguyện cho chính bản thân ta nhiều hơn là cho tha nhân. Thưa các bạn, chúng ta cố gắng dành thời gian, để nhớ đến các linh hồn trong luyện ngục. Vì các linh hồn ấy không thể cầu xin cho chính mình được.

Cầu nguyên theo nghĩa Công Giáo:   Cầu nguyện không phải là chỉ để xin điều mình mong ước không mà thôi. Cầu nguyện cũng là để: ca tụng, cảm tạ, thờ lạy (v.v) Thiên Chúa. Cầu nguyện là đặt trạng thái bản thân ta hiện diện trước tôn nhan Thiên Chúa. Cầu nguyện không bị giới hạn trong trạng thái và giây phút của giờ kinh sách, lúc nguyện ngắm, hoặc buổi kinh nguyện (v.v). Cầu nguyện là một mối sống tương quan và hiệp thông giữa con người với Thiên Chúa, trong từng giây phút ngay trong cuộc sống thường nhật.

Hình thức cầu nguyện:   Cầu nguyện bằng miệng, thốt nên lời, gọi là “khẩu nguyện“. Hình thức cầu nguyện bằng tâm trí, suy đi nghĩ lại về một điều đạo giáo nào đó, thì gọi là “suy niệm“. Khi ta trầm lặng, ngắm nhìn cùng ngẫm nghĩ về một sự việc, hoặc một biến cố đạo lý trong lòng trí, thì được gọi là “chiêm niệm“.

Dành ra giây phút để cầu nguyện trong cuộc sống bận rộn:   Học sinh thì cần phải lo bài vở, thi cử. Thanh niên trẻ thì có công việc cùng cần thời gian cho bạn bè. Bố thì phải lo liệu kế sinh nhai cho gia đình. Mẹ bận rộn việc nơi hãng xưởng cùng việc nội trợ. Nghĩa là, ai ai cũng có nhiều việc cần phải làm, và không có nhiều thời gian để cầu nguyện. Nhưng nếu chúng ta quan tâm đến việc cầu nguyện, thì chắc hẳn chúng ta cũng có khả năng dành ra được một khoảng thời gian để cầu nguyện trong 24 giờ đồng hồ (đã và đang được Thiên Chúa ban cho mỗi ngày).

  Còn nếu mà chúng ta thật sự bận rộn, không thể dành ra được thời gian để cầu nguyện, thì chúng ta có thể: dâng công việc mà chúng ta sắp phải thực hiện lên cho Thiên Chúa, theo một ý (ngay lành) nào đó, đây cũng là một cách cầu nguyện.

…………………………………………………………………………………………….
-GIÁO HỘI-
Giáo: “Giáo” có nghĩa là “Đạo”, là “tôn giáo”. Vị sáng lập hoặc đại diện của một tập thể tôn giáo, được gọi là “Giáo Chủ”. Quyền bính của Giáo Hội (Công Giáo), được gọi là “Giáo Quyền”.
Hội: Hội là “đoàn thể”, là “tập thể”. Một tập thể có chức năng đại diện cho một quốc gia, được gọi là “Quốc Hội”. Một đoàn thể tu hành, được gọi là “Tu Hội”.
Giáo Hội: Theo nghĩa thông thường thì “giáo hội” có nghĩa là “đoàn thể tôn giáo”. Nhưng chữ “Giáo Hội” dùng cho Đạo Công Giáo thì có thêm nghĩa là: Những người được kêu gọi và qui tụ (= triệu tập) trong cùng một đức tin (= tin Chúa Giêsu Kitô = tin Thiên Chúa).
Chữ Giáo Hội trong tiếng Nhật: Trong tiếng Nhật, chữ “nhà thờ” gọi là “Kyokai”. Kyokai dịch ra Hán Việt là “Giáo Hội”. Đồng thời, chữ Giáo Hội cũng được dùng bằng chữ Kyokai. Không phải tiếng Nhật nghèo từ vựng. Nhưng các bậc tiền bối Công Giáo Nhật Bản đã hiểu rõ ý nghĩa của từ Giáo Hội, nên đã dịch ra cùng một chữ là “Kyokai”. Vì sao? Vì Giáo Hội là cụm từ bao gồm 3 ý nghĩa chính đó là: ① Tất cả mọi tín hữu trên thế giới (kyokai = Giáo Hội), ② Cộng đoàn tín hữu của từng địa phương (Giáo Hội của một quốc gia, Giáo xứ (kyokai = nhà thờ) v.v, ③ Cộng đoàn phụng vụ.
Giáo Hội Công Giáo: Cụm từ Giáo Hội được dùng nhiều trong các tôn giáo khác. Thí dụ như: Giáo Hội Tin Lành, Giáo Hội Phật Giáo, v.v. Nhưng, cụm từ Giáo Hội của Đạo Công Giáo thì có thêm 2 chiều kích. Đó là: “hữu hình” và “vô hình”. Hữu hình có nghĩa là: Gíao Hội Công Giáo có một “cơ cấu phẩm trật” trên toàn hoàn cầu, vô hình nghĩa là Giáo Hội Công Giáo là “Bí Tích”, là “Mầu Nhiệm” của chính Chúa Giêsu.
Đặc Tính của Giáo Hội: Giáo Hội có 4 đặc tính. Đó là: ① Chỉ có một Giáo Hội trên toàn cầu (= duy nhất), ② Gíáo Hội do Chúa Giêsu thiết lập (= Thánh Thiện), ③ Giáo Hội chung cho mọi người (= Công Giáo), ④ Gíáo Hội có những truyền thống được truyền lại từ các Tông Đồ (= Tông Đồ Truyền Thống = Tông Truyền). Bốn đặc tính này được ghi rõ trong Kinh Tin Kính.
Sứ mệnh của Giáo Hội và của cá nhân: Sứ mệnh của Giáo Hội là: ① loan báo Phúc Âm, ② làm chứng Phúc Âm, ③ Phục Vụ và ④ cử hành Phụng Vụ. Đó là sứ mệnh của Giáo Hội. Còn sứ mệnh của mỗi cá nhân ta là gì? Có gì khác so với sứ mệnh của Giáo Hội không? Chắc không có gì khác biệt cả. Vì Giáo Hội là: kêu gọi cùng qui tụ của những người tin vào Thiên Chúa, và mỗi cá nhân ta là một thành phần của G.Hội. Do đó, sứ mệnh của Giáo Hội cũng là sứ mệnh của mỗi một cá nhân ta.

 

-Bí Tích-

Là người Kitô hữu, thì ai cũng biết chữ “BÍ Tích”. Nhưng nếu có một người bạn ngoại Đạo, đến nhờ ta cắt nghĩa cụm từ này. Thì ta sẽ giải nghĩa như thế nào? Có thể, ta hơi lúng túng khi bị hỏi. Nhưng tại sao ta lại phải lúng túng? Chắc có lẽ là vì ta chưa hiểu sâu sắc về nghĩa của cụm từ này.
Bí: “Bí” có nghĩa là: “kín ẩn”, không thấy được, không được biết đến cho mấy. Thí dụ như chữ “bí danh”. “Bí” là “kín ẩn”, “danh” là “tên”. “Bí danh” là: “tên kín ẩn”, tên không được biết đến cho mấy, là tên dùng thay cho tên thật để giữ sự kín ẩn. Tiếp đến, chúng ta cùng xem chữ “bí quyết”. “Bí” là “kín ẩn”, “quyết” là: “phép”, phương pháp. “Bí quyết” là: “phép kín ẩn”, phép ít được biết đến, là phép hiệu nghiệm ít người biết.
Tích: “Tích” có nghĩa là: “dấu vết”, qúa khứ, xưa. Thí dụ như chữ “thành tích”. “Thành” là “kết quả”, “tích” là “dấu vết”. “Thành tích” là “dấu vết của kết quả” đã đạt được. Hoặc là chữ “sự tích”. “Sự” là “câu chuyện”, tích là “dấu vết”. “Sự tích” là: “dấu vết câu chuyện”, là câu chuyện thời xưa.
Bí Tích: “Bí” là “kín ẩn”, “Tích” là “dấu vết”. “Bí Tích” là “dấu vết kín ẩn” (= ấn tích). Có ý nghĩa là: dấu vết không nhìn thấy được bằng mắt thường. Đạo Công Giáo diễn tả chữ “dấu vết kín ẩn” này qua cụm từ “Bí Tích”. Dựa vào những ý nghĩa trên, chúng ta sẽ có được câu trả lời tương đối đầy đủ ý nghĩa như sau: Bí tích là dấu chỉ bề ngoài do Chúa Giêsu thiết lập, ủy thác cho Giáo Hội, để chuyển thông ơn bề trong cho loài người.
Bảy Bí Tích: Bí Tích được chia ra làm 3 nhóm, nhưng không có Bí Tích nào cao trọng hơn Bí Tích nào cả. Bí Tích Khai Tâm Kitô Giáo gồm có: Bí Tích Thanh Tẩy, Bí Tích Thêm Sức và Bí Tích Thánh Thể. Các Bí Tích Chữa Lành đó là: Bí Tích Giao Hòa, Bí Tích Xức Dầu Bệnh Nhân. Còn lại là các Bí Tích Phục Vụ. Đó là Bí Tích Truyền Chức Thánh và Bí Tích Hôn Phối. Trong các Bí Tích này, có 3 Bí Tích chỉ lãnh nhận được một lần mà thôi. Đó là: Bí Tích Thanh Tẩy, Bí Tích Thêm Sức và Bí Tích Truyền Chức Thánh. Vì Sao? Vì 3 Bí Tích này ghi một ấn tích vĩnh viễn, nên chỉ cần lãnh nhận một lần mà thôi.
Bí Tích, nguồn mạch ân sủng: Bí Tích là nguồn mạch ân sủng. Vậy thì, ân sủng phát sinh từ khi nào? Thưa, ân sủng được phát sinh ngay khi cử hành Bí Tích. Nhưng, thừa tác viên là người phàm, thì làm sao ân sủng có thể phát sinh được? Vâng, sự phát sinh ân sủng không tùy thuộc vào thừa tác viên hay người lãnh nhận. Nhưng để ân sủng được hiệu quả hơn, thì nội tâm của người lãnh nhận là điều kiện cần thiết.
————————————-
Chúng ta, cần có ý thức khi đã được lãnh nhận Bí Tích: Thánh hóa con người, là 1 trong 3 chiều kích của Bí Tích. Là người Kitô hữu, ít nhiều thì chúng ta đã lãnh nhận từ 3 Bí Tích trở lên. Nghĩa là chúng ta đã được thánh hóa. Bởi thế, chúng ta cố gắng sống sao cho xứng đáng với tư cách của người đã lãnh nhận Bí Tích (của người đã được thánh hóa), hầu thông phần vào việc xây dựng thân thể Chúa Giêsu, và thờ phượng Người trong ý nghĩa của người đã lãnh nhận Bí Tích.

…………………………………………

-THÁNH LỄ-

Thánh: Ngược nghĩa của chữ “Thánh” là “phàm”. Người bình thường như chúng ta thì gọi là “phàm nhân”. Một người khi ở trần gian sống thánh thiện, và sau khi chết có những dấu chỉ “thần linh (= phép lạ)” vượt trên những định lý tự nhiên, được Giáo Hội xét duyệt và tôn phong “Hiển Thánh”, thì ta gọi là “Thánh Nhân”. Do đó, chữ “Thánh” là từ diễn tả sự “Thần Linh”, không lệ thuộc về cõi trần gian hiện tại của chúng ta đang sống.

Lễ: Chữ “Lễ” trong cụm từ “Thánh Lễ” có nghĩa là “nghi thức”. Thí dụ như; ①Hôn Lễ: nghi thức hôn nhân (phối), ②Kết Lễ: nghi thức kết thúc (Thánh Lễ), ③Dâng Lễ: nghi thức dâng tế (hiến) v.v.

Thánh Lễ: “Thánh” có nghĩa là “Thần Linh”. “Lễ” có nghĩa là “nghi thức”. Thánh Lễ là một “nghi thức thần linh (= nghi thức dành cho đấng Thần Linh)”. Thần linh ở đây có nghĩa là “Thiên Chúa”. Theo đó, Thánh Lễ là nghi thức dành cho Thiên Chúa.

Về nghi thức: Nghi thức được cấu thành bởi 2 phần chính. Đó là: Phụng Vụ Lời Chúa và Phụng Vụ Thánh Thể. Phụng Vụ Lời Chúa bắt đầu từ Ca Nhập Lễ cho đến hết Lời Nguyện Cộng Đoàn. Phụng Vụ Thánh Thể bắt đầu từ việc chuẩn bị lễ vật đến lời nguyện sau Hiệp Lễ.

Về việc cử hành: Ca xướng, bài đọc, đèn nến, cách đi đứng, cùng các nghi thức khác, đôi khi làm cho chúng ta quên đi mục đích của việc cử hành Thánh Lễ. Giáo Hội cử hành Thánh Lễ với mục đích: – Tưởng niệm sự chết và Phục Sinh của Ngôi Hai Thiên Chúa, – Hiện tại hóa Thập Tự Giá của chính Chúa Giê-su. Do đó, mỗi lần cử hành Bí Tích Thánh Thể là mỗi lần Chúa Giê-su lại Phục Sinh.

Chúa Giê-su, Ngài là ai trong Thánh Lễ? Ngài chính là Đấng tự hiến tế dâng mình cho Đức Chúa Cha, bằng cách đổ máu trên Thập Tự Giá.

Linh Mục, Ngài là ai trong Thánh Lễ? Trong Thánh Lễ, qua các thừa tác vụ Tư Tế (Linh Mục, Đức Giám Mục, v.v) Chúa Giê-su vẫn tiếp tục dâng mình cho Đức Chúa Cha, bằng cách không đổ máu trên bàn thờ. Để làm gì? Để tiếp tục công cuộc cứu chuộc nhân loại.

Không nên nói là đi “xem Lễ”: Điều răn Thứ Nhất của Sáu Điều Răn Hội Thánh đó là: Xem Lễ ngày Chúa Nhật cùng các ngày Lễ buộc. “Xem” là từ vựng dùng để đọc cho xuôi vần. Thánh Lễ không phải là nghi thức được trình diễn để chúng ta đến xem. Như đã trình bày ở phần trên, Thánh Lễ là một “hiện tại hóa Thập Tự Giá của Chúa Giê-su”, “tưởng niệm (không phải kỷ niệm) sự chết và sống lại của Ngài”. Vì thế, chúng ta không nên chỉ đến nhà thờ để xem Lễ một cách hình thức để được gọi là tuân giữ Luật Giáo Hội.

Chia sẻ: Thật là hổ ngươi khi ngồi viết xuống các hàng chữ này. Vì khi nhìn lại thái độ của những lần đã đi Lễ thì: tỉ lệ đi “xem Lễ” nhiều hơn tỉ lệ đi “tham dự Thánh Lễ”.

 Đừng ngại, hãy cam đảm cùng khiêm tốn nhìn lại thái độ của những lần ta đã đi Lễ trong quá khứ. Hầu thái độ đi “xem Lễ” (nếu có) sẽ thật sự trở nên: “Dâng Lễ”, “Dự Lễ”, hoặc “Tham Dự Thánh Lễ”.

-Đức Tin-

Bài trước chúng ta đã cùng nhau tìm hiểu về cụm từ “Tín Điều”. Và chúng ta đã biết được rằng là: “Tín Điều” không được đồng hóa với “Đức Tin”. Vậy thì, Đức Tin là gì?

Đức : Đôi khi chúng ta nói: Sống để “Đức” lại cho con cái. Nghĩa là chúng ta làm một việc phước “đức” cho một ai đó, mà không trông mong họ đáp trả lại “ơn” ấy cho chính mình, mà xin gởi tặng lại cho con cái.

Lại có lúc chúng ta nghe: Anh ấy có Đức lắm, bữa đói bữa no, mà thường hay giúp kẻ khó. Ăn không no bụng, mà dám hy sinh miếng ăn của mình cho người khác, việc này không phải ai cũng làm được. Hành vi làm việc phước “đức” chính là một “ơn” được ban từ bên trên. Dựa theo trên, “Đức” có nghĩa là “ơn”.

Tin : Giả sử như có một người bạn đến nói với ta rằng: Anh ơi! Làm ơn cho tôi mượn 10 Man, đến ngày 30 cuối tháng tôi sẽ trả lại. Nếu ta “tin” bạn ấy, thì ta sẽ cho người bạn ấy mượn. “Tin” ở đây có nghĩa là “đón nhận” lời nói của người bạn ấy.

Đức Tin : Cụm từ “Đức Tin”, khi nghe thì ta cảm thấy như là đã thấu hiểu, nhưng nếu bảo cắt nghĩa, thì làm ta phải lúng túng. Dựa vào những cách dùng trong cuộc sống, chúng ta suy ra được: “Đức” là “Ơn”, “Tin” là “Đón Nhận”. “Đức Tin” “ơn đón nhận” được ban cho ta từ bên trên. Theo đó, người có Đức Tin là người có ơn đón nhận với một tâm lòng đầy tín thác.

Abraham, cha của những người tin

Thiên Chúa gọi và phán với Abraham: Hãy rời bỏ quê hương, lên đường, đi đến vùng đất mới ta sẽ chỉ cho. Rời bỏ quê hương, bỏ lại đất đai, gia súc cùng tài sản, để lên đường đi đến vùng đất mà chưa hề được nghe biết, quả là một điều vô cùng bất an. Nhưng Abraham đã “đón nhận (= tin)” Lời của Thiên Chúa.

Rồi khi ở tuổi cao niên, chỉ có một người con thừa tự duy nhất, thế mà Thiên Chúa lại đòi hỏi Abraham phải hiến tế người con yêu quí ấy. Và rồi ông cũng âm thầm “đón nhận (= tin)” Lời yêu cầu của Thiên Chúa.

Và nhờ vào lòng tin phó thác (= Thiên Chúa sẽ lo liệu) ấy mà Abraham đã trở thành “cha của những người Tin, mẫu gương của những người công chính”.

Đức Mẹ Maria, mẫu gương của lòng tin phó thác

Khi được sứ thần đến báo tin: Bà sẽ thụ thai và sinh hạ một người con trai. Thì Đức Mẹ vô cùng bối rối. Vì Đức Mẹ nghĩ rằng: Mình không có chồng thì làm sao có thể có con được. Thêm vào đó, chiếu theo luật Do Thái thời bấy giờ: Nếu một người phụ nữ không chồng mà có thai, thì phải chịu án ném đá tử hình. Và nếu phải chịu chết bằng án ném đá, thì làm sao có thể làm Mẹ Đấng Cứu Thế được? Thế nhưng, Đức Mẹ đã đáp lại với sứ thần: “Tôi xin vâng như lời sứ thần truyền”. Tại sao Đức Mẹ Maria lại có thể can đảm đáp lại với hai chữ “xin vâng”? Thưa! Đó không phải là câu trả lời tự dưng được bộc phát tại thời điểm được truyền tin. Mà là câu trả lời gói gém toàn bộ “lòng tín thác” vào Thiên Chúa của từng giây phút trong cuộc sống. Lòng tín thác ở đây có nghĩa là : tâm lòng hoàn toàn tin tưởngphó thác vào Thiên Chúa.

Học từ đức tin của Tổ Phụ Abraham và Đức Mẹ Maria

  • Đức tin phải là một hành vi tự do (⇒Tổ Phụ Abraham và Đức Mẹ Maria có quyền từ chối Lời mời gọi của Thiên Chúa).
  • Đức tin là hành vi nhân linh (⇒Hành vi của con người đối với đấng linh thiêng).
  • Đức tin là hồng ân siêu nhiên (⇒Hồng ân vượt trên mọi sự tự nhiên).
  • Đức tin là nhân đức đối thần (⇒Nhân đức đối với đấng thần linh).
  • Đức tin là cơ bản tất yếu để gắn bó với Thiên Chúa và để được ơn cứu rỗi.

Suy Niệm

+ Đức tin bảo đảm những điều chúng ta hy vọng.

⇒ Chúng ta hy vọng những điều gì trong đời sống Đức Tin?

+ Đức tin là bằng chứng những gì mà chúng ta không thấy.

⇒ Đâu là điều mà chúng ta tin mà chưa hề được thấy trong đời sống đức tin?

Ước gì chúng ta biết sống đức tin: như Tổ Phụ Abraham (= Thiên Chúa sẽ lo liệu), như Đức Mẹ Maria (= trọn lòng tín thác), như Chúa Giêsu trên Thập Tự Giá (= phó thác hồn xác), hầu có thể “đón nhận” tất cả những thử thách được gởi đến từ Thiên Chúa, hầu có thể “đón nhận” những Lời mời gọi của Ngài trong từng giây phút trong cuộc sống.

 

……………………………..

-TÍN ĐIỀU-

Tháng vừa qua chúng ta đã cùng nhau tìm hiểu chữ “Công Giáo”. Và chúng ta đã tái xác nhận: Đạo Công Giáo là Đạo có Tín Điều đã được Giáo Hội định tín và buộc người tín hữu phải tin giữ.

Vậy thì cụm từ “Tín Điều” có ý nghĩa như thế nào?

“Tín” có nghĩa là “Tin”. Thí dụ như; ①“thẻ tín dụng”, tín là tin, dụng là dùng, thẻ tín dụng là thẻ mà chúng ta tin tưởng và xử dụng. ②tín nhiệm, tín là tin, nhiệm là đảm đương, tín nhiệm là tin tưởng vào sự đảm đương. ③tín ngưỡng, tín là tin, ngưỡng là kính mộ, tín ngưỡng là tin tưởng kính mộ.

“Điều” có nghĩa là “khoản”. Thí dụ như; ①điều lệ, điều là khoản, lệ là qui định, điều lệ là các khoản qui định. ②điều luật, điều là khoản, luật là quy tắc, điều luật là những khoản quy tắc.

Dựa vào các nội dung trên. Tín Điều có nghĩa là: “các khoản phải tin”. Cụm từ Tín Điều mà Giáo Hội Công Giáo xử dụng có nghĩa là: các khoản đã được Giáo Hội “định tín” và buộc người tín hữu phải tin giữ.

Nhưng, Giáo Hội dựa vào nền tảng nào để định tín các Tín Điều?

Chắc hẳn có nhiều bạn sẽ trả lời là: dựa vào Kinh Thánh. Vâng, đúng như vậy. Nhưng cần bổ túc thêm một tí để câu trả lời được đầy đủ ý nghĩa hơn. Đó là: Giáo Hội dựa vào: ①những mặc khải của Thiên Chúa được các Thánh Tông Đồ ghi lại trong Kinh Thánh, ②dựa vào Thánh Truyền và ③dựa vào Quyền Giáo Huấn của Giáo Hội.

Vậy thì, Tín Điều có phải là Đức Tin hay không?

Không. Tín Điều không được đồng hóa với Đức Tin. Vì Tín Điều không bao gồm toàn bộ nội dung của Đức Tin.

Thế thì, Tín Điều và Đức Tin có liên quan với nhau như thế nào?

Tín điều là ánh sáng, giúp cho chúng ta thêm sáng suốt hơn, là cho chúng ta được an toàn hơn trong đời sống Đức Tin. Do đó, Tín Điều là chân lý của Đức Tín và cũng là chân lý của luân lý.

Dựa vào các nội dung nêu trên, chúng ta minh xác được rằng: Tín Điều là phương tiện giúp chúng ta tiếp xúc cùng đón nhận Lời Chúa một cách dễ dàng hơn, trên con đường hướng về Ơn Cứu Rỗi

Nhưng nếu muốn tìm kiếm các Tín Điều chính, thì ta nên tìm ở trong tập sách nào?

Vâng, các Tín Điều chính của Đạo Công Giáo được tóm gọn trong Kinh Tin Kính. Tất nhiên, các Tín Điều được Giáo Hội định tín sau Công Đồng Nicea-Constantinopoli thì không có trong Kinh Tin Kính. Thí dụ như: Tín Điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Tín Điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời.

Chúng ta là người “Công Giáo”, được Thiên Chúa ban tặng “Đức Tin” trong ngày lãnh nhận Bí Tích Thanh Tẩy, được Giáo Hội Giáo Huấn và trao ban các “Tín Điều”. Thế nhưng, có điểm gì nói lên sự khác biệt giữa chúng ta và những anh chị em không cùng tôn giáo trong cuộc sống thường nhật hay không?

+ Nếu “không có”, thì chúng ta cần phải làm những gì?

+ Và nếu đã “có chút ít” rồi, thì chúng ta cần phải làm thêm những gì nữa?

 

 

……………………………………………………..

CÔNG GIÁO

  Chữ “Công” của cụm từ “Công Giáo” có nghĩa là; chung, bằng nhau, không thiên vị, đại chúng, phổ quát v.v.

  Trong cuộc sống, chúng ta thường hay dùng và nghe những cụm từ có mang ý nghĩa giống như trên. Thí dụ như; công viên (công là chung, viên là vườn, công viên là vườn của chung), công cộng (công là chung, cộng là cùng, công cộng là cùng chung xử dụng), công chứng (được chứng thực trong đại chúng), công bố (công khai cho đại chúng biết), Công Đồng VaticanoⅡ(công là đại chúng, đồng là hội họp, công đồng là cuộc hội họp lớn).

  “Giáo” có nghĩa là “Đạo”. Những cụm từ “Giáo” có nghĩa “Đạo” mà chúng ta thường được nghe đó là; Giáo Xứ, Giáo Phận, Giáo Lý, Giáo Huấn, Giáo Hoàng, Giáo Hội v.v. Những cụm từ này đều có nghĩa là “Đạo”. Thí dụ như chữ Giáo Xứ. “Giáo” là “Đạo”, “Xứ” là “nơi chốn”, Giáo Xứ là “nơi chốn Đạo”, nói lên ý nghĩa của một tôn giáo địa phương.

  Vậy thì cụm từ “Công Giáo” mang ý nghĩa như thế nào? “Công” có nghĩa là “phổ quát”, “Giáo” có nghĩa là “Đạo”, Công Giáo có nghĩa là; “Đạo có tính phổ quát”, Đạo của mọi người, Đạo có sứ mệnh rao giảng Lời Chúa cho mọi dân tộc.

  Trong tiếng Nhật, chữ “Kirisuto Kyoo” không trực tiếp ám chỉ đến Đạo Công Giáo. Mà đó là một cụm từ ám chỉ chung tất cả các Đạo tin vào Thiên Chúa, tin vào Đức Kitô. Còn Đạo Công Giáo thì được dùng với chữ “Katorikku”.

  Chữ Công Giáo được dùng do Thánh Ignatio, từ thế kỷ thứⅡ. Công Giáo là cụm từ trực tiếp ám chỉ Đạo Công Giáo trực thuộc Tòa Thánh Rôma. Đồng thời, Công Giáo cũng là một trong bốn đặc tính của Giáo Hội. Bốn đặc tính đó là; Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền. Bốn đặc tính này là “tín điều” được định rõ trong Kinh Tin Kính.

  “Tín” là “tin”, “điều” là “khoảng”, tín điều là điều khoảng đã được Giáo Hội định tín và buộc tín hữu phải tin giữ.

  Giáo Hội Công Giáo có sứ mệnh rao giảng Lời Chúa cho muôn dân. Mà mỗi một chúng ta là “thành phần” của Giáo Hội. Do đó, mỗi một cá nhân ta cũng có sứ mệnh rao truyền Lời Chúa cho mọi người. Nhưng làm thế nào để việc rao giảng của ta được tốt hơn, hiệu qủa hơn, thì đó là bài tập còn lại của từng cá nhân.

Tối thiểu cần ghi nhớ:

Công Giáo là;

  – Đạo có tính phổ quát, Đạo của mọi người.

  – Một trong bốn đặc tính của Giáo Hội Công Giáo.

  – Đạo có định tín rõ các tín điều.

  – Đạo có sứ mệnh đem Lời Chúa đến chư dân (mà mỗi một chúng ta là thành phần của Giáo Hội)

 

……………………………………………………………

— Ngẫu Tượng —

  Là người Kitô hữu, thì ai ai trong chúng ta cũng điều hiểu được rằng là: Đạo Công Giáo là Đạo cấm thờ ngẫu tượng. Thế nhưng, Đạo Công Giáo lại có nhiều ảnh tượng nhất so với các tôn giáo khác. Vậy thì, thế nào thì gọi là “ngẫu tượng”?

Ngẫu — “Ngẫu” là: “tượng, pho tượng”. Trong tiếng Hán có chữ “mộc ngẫu”. “Mộc” là “gỗ”, “ngẫu” là “tượng”, “mộc ngẫu” là “tượng gỗ”. Đồng thời, “ngẫu tượng” cũng có nghĩa là “tượng được tôn làm thần để thờ ”.

Tượng — “Tượng” có nghĩa là; hình mạo được tạc với hình thức: khắc, đúc, xây, đắp, vẽ (v.v).

Ngẫu tượng — Theo nghĩa đen thì, ngẫu tượng là: một hình dạng tượng nào đó, được tôn lên làm thần để thờ.

Cấm thờ ngẫu tượng — Theo Luật Đạo

Có bạn bảo rằng: “Đạo Công Giáo cấm thờ ngẫu tượng, và thờ ngẫu tượng là có tội. Nhưng, tại sao trong Mười Điều Răn Đức Chúa Trời và Sáu Điều Răn Hội Thánh không có ghi rõ luật này?”.

Vâng! Xét về mặt từ ngữ, thì thật sự không có. Nhưng về nội dung thì rất là rõ ràng. Điều Thứ Nhất của Mười Điều Răn đó là: Thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự. Câu này có nghĩa là: không được thờ một thần, một vật, hoặc một thứ nào khác ngoài Thiên Chúa.

Do đó, cấm thờ ngẫu tượng là luật cấm đã được ghi rõ trong Mười Điều Răn.

Ngẫu tượng — ý nghĩa

Chữ “thờ ngẫu tượng” cho chúng ta một hình ảnh là: tôn thờ các tượng tạc nào đó không phải là Thiên Chúa. Dựa vào ý nghĩa này, thì chắc hẳn, cá nhân chúng ta, cũng tự cho rằng: “mình là người không có thờ ngẫu tượng”.

Nhưng, cụm từ ngẫu tượng, không chỉ có ám chỉ những hình tượng nhân tạo không mà thôi. Mà ngẫu tượng cũng là cụm từ diễn tả sự việc “tôn một cái gì đó lên làm thần thánh để tôn thờ”.

Do đó, ngẫu tượng cũng ám chỉ sự tôn thờ: quyền lực, địa vị, tiền của, khoái lạc, thú vui, dục vọng, ma quỷ (v.v).

Ngẫu tượng và hình tượng Thánh

Đứng, quì, ngồi để chiêm niệm hoặc cầu khấn trước ảnh tượng Thánh, có phải là thờ ngẫu tượng hay không? Không. Đạo Công Giáo không có dạy chúng ta “thờ tượng”. Nhưng, Giáo Hội cho phép chúng ta tạc tượng, nhằm mục đích để: qua các ảnh tượng ấy, chúng ta có thể hướng lòng lên “tôn thờ Thiên Chúa” và “tôn kính Các Thánh. Nhân dịp này, chúng ta nên phân biệt chữ “tôn thờ” và “tôn kính”.

※ Kính thưa quí tín hữu trong Giáo Đòan. Xưa nay, con vẫn tự cho rằng: “mình là người Kitô hữu tôn thờ Thiên Chúa, không có thờ ngẫu tượng”. Nhưng khi viết xuống những hàng chữ này, thì con chợt nhớ đến đoạn Kinh Thánh: của cải các ngươi để ở đâu, thì lòng trí các ngươi cũng sẽ để ở nơi ấy”. Và khi nhìn lại vị trí mà mình đang đặt để lòng trí, thì thật là hổ ngươi. Vì chính bản thân mình cũng là người đang tôn thờ ngẫu tượng, mà mình lại không nhìn thấy được điều này.

  Như Chúa Giêsu đã phán dạy: “anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa và làm tôi tiền của được”. Kính thưa quí tín hữu. Có thể lòng trí chúng ta để ở đâu, thì chúng ta có khả năng tôn thờ theo cái mà chúng ta đang đặt để lòng trí.

  Nguyện xin Chúa Thánh Thần, thương giúp chúng ta biết đặt để lòng trí đúng hướng.