Fratelli Tutti-Tất cả là Anh Chị Em của Đức Thánh Cha Phanxico- Chương VII-VIII

CHƯƠNG VII

NHỮNG NẺO ĐƯỜNG GẶP GỠ CANH TÂN

225.Nhiều nơi trên thế giới đang trông chờ các nẻo đường hòa bình, hầu chữa lành các vết thương chưa lành. Cũng vậy, nhu cầu cần đến những ai kiến tạo hòa bình, đàn ông lẫn phụ nữ sẵn sàng hoạt động mạnh mẽ đầy sáng tạo, nhằm khởi xướng tiến trình hàn gắn và gặp gỡ đổi mới.

BẮT ĐẦU LẠI TỪ CHÂN LÝ

226. Gặp gỡ đổi mới không có nghĩa là quay trở lại thời điểm trước khi xảy ra xung đột. Hết thảy chúng ta đều thay đổi theo thời gian, nhưng đau đớn và tranh chấp biến đổi chúng ta. Chúng ta không còn dùng cách thức ngoại giao sáo rỗng, sự vờ vĩnh, kiểu nói nước đôi, các nghị trình bí ẩn và bộ dạng cư xử tốt đẹp nhằm che giấu thực tại nữa. Những kẻ thù ác liệt này cần cất lên tiếng nói từ sự thật một cách quả quyết và rõ ràng. Họ phải học cách trau dồi ký ức sám hối, mà nó có thể chấp nhận quá khứ, nhưng không để che khuất tương lai bằng những ân hận hối tiếc, vấn đề nan giải và kế hoạch của riêng họ. Chỉ bằng cách dựa trên sự thật lịch sử của các biến cố, họ mới có thể nỗ lực bền bĩ lớn lao để hiểu nhau, cũng như phấn đấu cho xu hướng tổng hợp mới vì lợi ích của mọi người. Mỗi “tiến trình hòa bình đòi hỏi cam kết lâu dài. Đây là nỗ lực kiên trì tìm kiếm sự thật và công lý, ngõ hầu tôn vinh ký ức của các nạn nhân và từng bước mở đường cho niềm hy vọng chung mạnh mẽ hơn ước vọng trả thù” [209]. Như chư huynh Giám mục Công-gô đã từng nói về một cuộc xung đột cứ tái diễn đi tái diễn lại: “Các thỏa ước hòa bình trên giấy sẽ không đủ. Chúng ta phải tiến xa hơn, bằng cách tôn trọng những đòi hỏi sự thật liên quan đến vô vàn cội rễ của cuộc khủng hoảng cứ tái diễn này. Người dân có quyền biết những gì đã xảy ra” [210].

227. “Trên thực tế, chân lý là bạn đồng hành bất khả phân ly của công lý và lòng thương xót. Cả ba đều thiết yếu, hầu kiến tạo hòa bình; hơn thế nữa, mỗi điều ngăn cản điều kia khỏi bị thay đổi…Chân lý không nên dẫn đến sự trả thù, mà đúng hơn phải dẫn tới sự hòa giải và tha thứ. Sự thật có nghĩa là nói cho các gia đình tan nát do xót xa trước những gì đã xảy ra với những người thân đã mất. Sự thật nghĩa là thú nhận điều đã diễn ra với các em tuổi thành niên bị kẻ tàn ác bạo lực chiêu trò tuyển mộ. Sự thật là nhận ra nỗi đau xót của giới phụ nữ vốn trở thành nạn nhân của tình trạng lạm dụng và bạo hành…Mọi hành động bạo lực vi phạm chống lại con người đều để lại vết thương hằn trên da thịt nhân loại; mỗi cái chết do bạo lực gây ra khiến chúng ta thu hẹp lại…Bạo lực kéo theo bạo lực trầm trọng hơn, hận thù sinh ra hận thù kinh hoàng hơn, giết hại dẫn đến sát hại nhiều hơn. Chúng ta phải phá vỡ vòng lẩn quẩn này, mà nó xem ra không thể thoát được” [211].

NGHỆ THUẬT VÀ KHOA KIẾN TRÚC HÒA BÌNH

228. Con đường dẫn tới hòa bình chẳng phải biến xã hội trở nên đồng dạng nhạt nhẽo, nhưng phải nối kết mọi người cộng tác với nhau, sát cánh bên nhau, theo đuổi những mục tiêu hữu ích cho tất cả. Hàng loạt đề xuất thực tiễn cũng như các kinh nghiệm đa dạng có thể hỗ trợ đạt được mục tiêu chung và phục vụ lợi ích chung. Những vấn đề mà xã hội đang trải qua cần được xác định rõ ràng, ngõ hầu đánh giá cao tính tồn tại của nhiều lối hiểu biết và cách giải quyết khác nhau. Nẻo đường dẫn đến sự hợp nhất xã hội luôn đòi hỏi phải thừa nhận khả năng của tha nhân, tối thiểu một phần, họ sở hữu quan điểm chính đáng, có gì đó đáng giá để góp phần, ngay cả khi họ mắc lỗi lầm hoặc hành động tồi tệ. “Chúng ta đừng bao giờ giam hãm người khác vào những gì có thể họ đã nói hoặc đã làm, nhưng hãy coi trọng họ vì lời hứa mà họ vốn là hiện thân” [212], một lời hứa luôn mang theo nó tia hy vọng tươi mới.

229. Các chư huynh Giám mục Nam Phi đã nhấn mạnh rằng sự hòa giải đích thực sẽ chủ động đạt được “bằng cách tạo ra xã hội mới, một xã hội dựa trên việc phục vụ tha nhân, hơn là mong muốn thống trị; một xã hội dựa trên tinh thần chia san với người khác những gì mình có, thay vì mỗi người cứ ích kỷ tranh giành, hầu tích trữ càng nhiều của cải càng tốt; nói cho cùng, một xã hội mà trong đó giá trị chung sống với nhau như những con người quan trọng hơn bất cứ bè nhóm nào, bất luận là gia đình, quốc gia, chủng tộc hay văn hóa” [213]. Như chư huynh Giám mục Hàn Quốc đã nêu ra, hòa bình chân chính “chỉ có thể đạt được khi chúng ta nỗ lực theo đuổi công lý qua đối thoại, theo đuổi sự hòa giải và cùng nhau phát triển” [214].

230. Việc chung tay vượt qua tình trạng chia rẽ của chúng ta mà không đánh mất bản sắc riêng như mỗi cá thể, giả định cảm thức căn bản thân thuộc này hiện diện nơi mọi người. Thật vậy, “xã hội được hưởng lợi khi mỗi người và nhóm xã hội cảm thấy thực sự như ở nhà. Trong gia đình, cha mẹ, ông bà và con cái đều cảm thấy thoải mái như ở nhà; không một ai bị loại trừ. Nếu ai đó có vấn đề, ngay cả vấn đề nghiêm trọng, thậm chí khi tự mình gánh vác chăng nữa, thì mọi thành viên còn lại trong gia đình sẵn sàng trợ giúp, nâng đỡ. Vấn đề của một người là vấn đề không của riêng ai…Trong gia đình, mọi người đều góp phần vào mục đích chung, đều ra sức làm việc vì thiện ích chung, chẳng hề phủ nhận, nhưng khuyến khích và động viên tính cá nhân của mỗi người. Họ có thể tranh cãi, nhưng mối dây liên kết gia đình không thay đổi,  những tranh chấp gia đình luôn được giải quyết sau đó. Niềm vui và nỗi buồn của mỗi thành viên đều được mọi người cảm nhận. Đó chính là ý nghĩa của một gia đình! Ước chi chúng ta có thể nhìn các đối thủ chính trị hoặc hàng xóm láng giềng của mình theo cách chúng ta nhìn con cái hoặc người bạn đời, bố hoặc mẹ của mình! Điều này sẽ tốt biết bao! Chúng ta yêu mến xã hội của chúng ta hay nó vẫn còn xa vời, khuyết danh, chẳng liên can đến chúng ta, hay một điều gì đó mà chúng ta không hề cam kết dấn thân?” [215]

  1. Thông thường, đàm phán trở nên thiết yếu, nhằm hình thành các nẻo đường cụ thể dẫn đến hòa bình. Tuy nhiên, trên hết tiến trình thay đổi đưa tới nền hòa bình lâu dài được các dân tộc tạo ra; mỗi cá nhân có thể hành động như men bột hữu hiệu bằng lối sống hằng ngày. Phía sau bàn làm việc hoặc trong các văn phòng, những thay đổi lớn lao không hề được tạo ra. Nghĩa là “mọi người đều giữ vai trò căn bản trong một đề án sáng tạo vĩ đại đơn nhất: viết nên trang sử mới tràn đầy niềm hy vọng, bình an và hòa giải” [216]. Một “khoa kiến trúc” hòa bình tồn tại, mà trong đó các định chế xã hội khác nhau góp phần tùy theo lĩnh vực chuyên môn, nhưng “nghệ thuật” hòa bình cũng hiện hữu, bao gồm mọi người chúng ta. Từ vô số tiến trình hòa bình đã từng diễn ra khắp nơi trên thế giới, “chúng ta học được những phương cách kiến tạo hòa bình, tiếp thu dạng thức đặt lý lẽ lên trên mối thù, cũng như đường lối sống hài hoà tinh tế giữa chính trị và luật pháp, chẳng thể nào bỏ qua sự tham gia của người dân. Hòa bình sẽ không đạt được bằng các khuôn khổ quy phạm và những sắp xếp mang tính định chế giữa nhiều nhóm chính trị hoặc kinh tế đầy thiện chí…Luôn thật sự hữu ích khi lồng vào các tiến trình hòa bình của chúng ta kinh nghiệm từ những lĩnh vực thường bị bỏ qua, ngõ hầu các cộng đồng tự mình có thể chi phối sự phát triển của ký ức tập thể” [217].232. Việc xây dựng nền hòa bình toàn xã hội của một quốc gia chẳng có hồi kết; đúng hơn, đây là “nỗ lực luôn còn đó, một nhiệm vụ không bao giờ kết thúc, đòi hỏi sự dấn thân của mọi người và thách thức chúng ta làm việc liên lỉ nhằm kiến tạo tinh thần hợp nhất quốc gia. Bất chấp mọi trở ngại, khác biệt và vô số quan điểm về cách thức đạt được tính chung sống hòa bình, thì nhiệm vụ này mời gọi chúng ta kiên trì trong cuộc đấu tranh nhằm cổ vũ nền ‘văn hóa gặp gỡ’. Điều này yêu cầu chúng ta phải đặt con người ở vị thế trọng tâm của mọi sinh hoạt chính trị, xã hội và kinh tế, vì họ chính là chủ thể thụ hưởng phẩm giá cao cả nhất, cũng như đòi hỏi ta tôn trọng công ích. Ước gì lòng quyết tâm này giúp chúng ta thoát khỏi cám dỗ báo thù và thỏa mãn với các quyền lợi đảng phái ngắn hạn” [218]. Xét về mặt này hay mặt khác, những cuộc biểu tình bạo động công khai chẳng hỗ trợ tìm ra các giải pháp. Như chư huynh Giám mục Cô-lôm-bi-a lưu ý một cách đúng đắn, lí do chủ yếu bởi vì “nguồn gốc và mục tiêu của các cuộc biểu tình dân sự chẳng phải lúc nào cũng rõ ràng; một số hình thức thao túng chính trị nào đó tồn tại và chúng đã bị khai thác cho quyền lợi đảng phái trong vài trường hợp” [219].

    Khởi đầu với người mọn hèn nhất

  2. Xây dựng tình hữu nghị xã hội không chỉ kêu gọi các nhóm xích lại gần nhau, mà họ vốn đã đứng về phe phái khác trong giai đoạn lịch sử khó khăn nào đó, nhưng còn mời gọi gặp gỡ canh tân với những thành phần nghèo nàn và dễ bị tổn thương nhất của xã hội. Vì hòa bình “không đơn thuần là thiếu vắng chiến tranh, mà là một cam kết bền bỉ – đặc biệt về phía những ai trong chúng ta đang giữ trọng trách lớn lao hơn – trong việc nhìn nhận, bảo vệ và khôi phục một cách cụ thể phẩm giá của anh chị em chúng ta vốn thường bị bỏ qua hoặc làm ngơ, ngõ hầu họ có thể xem bản thân như các nhân vật chính yếu bênh vực vận mệnh quốc gia mình” [220].234. Thông thường, những thành viên dễ bị tổn thương hơn trong xã hội là nạn nhân của hiện trạng quy chụp bất công. Nếu đôi khi người nghèo và những ai bị tước đoạt quyền sở hữu phản ứng với thái độ dường như chống báng xã hội, thì chúng ta nên nhận ra rằng trong nhiều trường hợp, các phản ứng đó ra đời từ nền lịch sử khinh miệt và loại trừ xã hội. Chư huynh Giám mục Nam Mỹ từng nhận xét rằng “chỉ sự gần gũi biến chúng ta thành bạn hữu mới có thể giúp ta đánh giá sâu sắc các giá trị của người nghèo ngày nay, những nguyện vọng chính đáng và cách sống đức tin của họ. Lựa chọn người nghèo sẽ dẫn chúng ta đến tình thân hữu với người nghèo” [221].

    235. Những ai ra sức hoạt động cho tinh thần chung sống xã hội thanh bình đừng bao giờ quên rằng tính bất bình đẳng và thiếu hụt phát triển toàn diện của con người khiến hòa bình trở nên bất thành. Thật vậy, “nếu chẳng có cơ hội bình đẳng, các hình thức xâm lược và xung đột khác nhau sẽ tìm được mảnh đất màu mỡ để tăng trưởng, rồi sau cùng nổ tung tiêu tan. Khi một xã hội – bất kể là địa phương, quốc gia hay hoàn cầu – đều sẵn sàng bỏ mặc phần rìa của chính nó, thì chẳng có chương trình hoặc nguồn lực chính trị nào dành cho các hệ thống giám sát hoặc thực thi pháp luật có thể bảo đảm được sự thanh bình vô thời hạn” [222]. Nếu chúng ta phải bắt đầu lại, ắt hẳn luôn khởi sự từ những anh chị em bé mọn nhất của chúng ta.

    GIÁ TRỊ VÀ Ý NGHĨA CỦA LÒNG VỊ THA

  3. Nhiều người không thích nói về hòa giải, vì họ nghĩ rằng xung đột, bạo lực và đổ vỡ là một phần hoạt động bình thường của xã hội. Trong bất cứ nhóm người nào cũng luôn có những cuộc tranh giành quyền lực tinh vi ít nhiều giữa các đảng phái khác nhau. Ngoài ra, kẻ khác cho rằng cổ vũ sự tha thứ nghĩa là chuyển giao cơ sở và chi phối tha nhân. Vì lý do này, họ cảm thấy giữ nguyên trạng mọi điều, duy trì sự cân bằng quyền lực giữa các nhóm khác nhau tốt hơn. Tuy nhiên, nhiều người lại tin rằng hòa giải là dấu hiệu của sự yếu kém; không có khả năng đối thoại nghiêm túc thật sự, họ chọn tránh né các vấn đề bằng cách phớt lờ tình trạng bất công. Vì chẳng thể nào đối phó với những vấn đề nan giải, nên họ đành chọn loại hòa bình biểu kiến.Xung đột bất khả kháng
  4. Tha thứ và hòa giải là chủ đề trọng tâm của Ki-tô giáo và các tôn giáo khác qua nhiều dạng thức. Tuy nhiên, nguy cơ thiếu hiểu biết và trình bày không thỏa đáng những xác tín sâu sắc này có thể dẫn đến thuyết định mệnh, tính lãnh đạm và bất công, hoặc thậm chí sự ngoan cố và bạo lực.238. Đức Giê-su chẳng bao giờ cổ súy nạn bạo lực hoặc sự bất khoan dung. Người công khai lên án việc sử dụng vũ lực để giành lấy quyền thế trên tha nhân: “Anh em biết: thủ lãnh các dân thì lấy quyền mà thống trị dân, những người làm lớn thì dùng uy mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy” (Mt 20, 25-26). Thay vào đó, Tin Mừng cho chúng ta biết phải tha thứ “bảy mươi lần bảy” (Mt 18, 22) và đưa ra thí dụ tên đầy tớ bất nhân được tha thứ, nhưng lại không thể tha thứ cho người khác (x. Mt 18, 23-35).

    239. Đọc các bản văn khác của Tân Ước, chúng ta có thể thấy những cộng đoàn Ki-tô hữu thời sơ khai đã tìm cách biểu lộ lòng nhẫn nại, khoan dung và thông hiểu vô hạn, mặc dù sống trong thế giới ngoại giáo đầy băng hoại và sai lầm tràn lan. Về phương diện này, một số bản văn rất rõ ràng: chúng ta phải lấy “lòng hiền hoà” mà khuyên nhủ những kẻ chống đối (2Tm 2, 25) và được khích lệ “đừng chửi bới ai, đừng hiếu chiến, nhưng phải hiền hoà, luôn luôn tỏ lòng nhân từ với mọi người. Vì xưa kia, cả chúng ta nữa cũng đã từng ngu dại” (Tt 3, 2-3). Sách Tông Đồ Công Vụ ghi nhận: mặc dù bị một số nhà cầm quyền bắt bớ, nhưng các môn đệ “đã được toàn dân thương mến” (2, 47; x. 4, 21.33; 5, 13).

    240. Tuy nhiên, khi chúng ta suy ngẫm về sự tha thứ, hòa bình và hòa hợp xã hội, chúng ta cũng bắt gặp câu nói gây choáng váng của Đức Ki-tô: “Anh em đừng tưởng Thầy đến đem bình an cho trái đất; Thầy đến không phải để đem bình an, nhưng để đem gươm giáo. Quả vậy, Thầy đến để gây chia rẽ giữa người ta với cha, giữa con gái với mẹ, giữa con dâu với mẹ chồng. Kẻ thù của mình chính là người nhà” (Mt 10, 34-36). Những lời này cần được hiểu trong bối cảnh toàn chương mà đoạn văn được nêu, rõ ràng Đức Giê-su đang nói về lòng trung thành với quyết định bước theo chân Người; chúng ta chẳng hổ thẹn về quyết định đó, ngay cả khi nó kéo theo nhiều gian nan khốn khó khác nhau, thậm chí khi người thân chúng ta cũng từ chối chấp nhận nó. Lời lẽ của Đức Ki-tô không khuyến khích chúng ta tìm kiếm xung đột, nhưng đơn giản chỉ chịu đựng khi nó chắc chắn xảy đến, để sự tôn trọng con người không làm suy giảm lòng trung thành của chính chúng ta, vì lợi ích mang lại hòa bình đương nhiên phải có trong gia đình hoặc xã hội. Thánh Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II đã nhận định rằng Giáo hội “không có ý định lên án mọi hình thức xung đột xã hội có thể tồn tại. Giáo hội nhận thức rõ ràng trong dòng lịch sử, các xung đột quyền lợi giữa các nhóm xã hội khác nhau chắc chắn sẽ nảy sinh, và khi đối mặt với những xung đột đó, thông thường người Ki-tô hữu phải giữ vững lập trường một cách trung thực và dứt khoát” [223].

Xung đột chính đáng và sự tha thứ

  1. Điểm trên đây không mang ý nghĩa kêu gọi tha thứ khi liên quan đến việc từ bỏ các quyền của chính bản thân, cũng như đối đầu với quan chức tham nhũng, tội phạm hoặc những ai tước đoạt nhân phẩm chúng ta. Chúng ta được mời gọi yêu thương mọi người, không trừ một ai; đồng thời, mến yêu kẻ áp bức không có nghĩa là để họ tiếp tục đàn áp chúng ta, hoặc cứ để họ nghĩ rằng những gì họ làm là chấp nhận được. Ngược lại, tình yêu chân chính đối với kẻ áp bức chính là tìm ra phương cách khiến họ chấm dứt đàn áp; hơn nữa, nó tước bỏ sức mạnh khỏi họ mà bản thân chẳng biết tận dụng, và làm giảm bớt nhân tính của mình và người khác. Sự tha thứ không hàm ý cho phép những kẻ áp bức tiếp tục chà đạp lên nhân phẩm của họ và của người khác, hoặc cứ để cho kẻ phạm tội ung dung với hành vi sai trái. Hết thảy những ai chịu cảnh bất công phải hết sức nỗ lực bảo vệ quyền lợi của mình và gia đình, chắc hẳn bởi vì họ giữ gìn phẩm giá như một hồng ân yêu thương mà Thiên Chúa ban tặng. Nếu như tội nhân gây hại cho tôi hoặc người thân, thì không ai có thể cấm tôi đòi hỏi công lý và bảo đảm rằng người này – hoặc bất cứ ai khác – sẽ không làm tổn thương tôi hoặc những người khác một lần nữa. Điều này hoàn toàn công bằng; việc thứ tha không ngăn cấm, nhưng thực sự lại đòi hỏi nó.

242. Hệ trọng hơn là đừng đổ thêm dầu vào lửa, mà nó vốn chẳng tốt lành cho linh hồn bản thân cũng như người khác, hoặc bị ám ảnh với việc trả thù và tiêu diệt tha nhân. Theo cách này, không ai đạt được bình an tâm hồn hoặc trở lại với cuộc sống bình thường cả. Sự thật rõ ràng rằng “chẳng một gia đình hay nhóm hàng xóm láng giềng nào, không nhóm sắc tộc nào, càng không thể quốc gia nào lại có tương lai nếu sức mạnh hợp nhất, nối kết và giải quyết mọi khác biệt giữa họ là báo oán và thù hận. Chúng ta không thể tiến đến thỏa thuận hợp nhất vì mục đích trả thù, hoặc đối xử bạo lực với người khác như họ đã cư xử với chúng ta, hoặc âm mưu tạo ra cơ hội trả đũa dưới sự bảo hộ biểu kiến của pháp luật” [224]. Theo cách này, ta chẳng thu được lợi lộc gì, và sau cùng, mọi thứ sẽ mất.

243. Chắc chắn rằng: “Vượt qua di sản cay đắng của bất công, thù nghịch và nghi kỵ do xung đột gây ra, không phải là trách vụ dễ dàng. Nó chỉ có thể thực hiện được nhờ chiến thắng cái ác bằng việc làm thiện hảo (x. Rm 12, 21) và nỗ lực trau dồi các nhân đức vốn phát huy hòa giải, liên đới và hòa bình” [225]. Như vậy, “những ai nuôi dưỡng lòng tốt trong tâm hồn sẽ nhận thấy điều tốt lành ấy dẫn đến một lương tâm bình an và niềm hoan lạc thâm sâu, ngay cả khi đang ở giữa ba đào nguy biến và bị hiểu lầm. Thậm chí lúc đương đầu, lòng tốt sẽ chẳng bao giờ yếu hèn, trái lại, nó biểu lộ sức mạnh bằng cách từ chối hành vi báo thù” [226]. Mỗi người trong chúng ta nên nhận ra rằng “ngay cả bản án khắc nghiệt mà tôi giữ trong lòng đối với anh trai hoặc em gái mình, thì vết thương đau xót sẽ chẳng bao giờ được chữa lành; hơn nữa, hành vi xúc phạm không bao giờ được tha thứ, sự hiềm thù sẽ chỉ làm tổn thương tôi, tất cả đều là những trường hợp của cuộc tranh đấu mà tôi phải mang trong mình, một ngọn lửa nhen nhúm tận sâu thẳm trái tim tôi cần được dập tắt trước khi nó biến thành ngọn lửa vút cao” [227].

Cách tiến bước tối ưu

  • Khi xung đột không được giải quyết mà bị giấu kín hoặc chôn vùi trong dĩ vãng, thì sự im lặng có thể dẫn đến tình trạng đồng lõa với những hành vi sai trái và tội lỗi nghiêm trọng. Hòa giải chân chính chẳng phải trốn chạy khỏi xung đột, mà đạt được trong xung đột, giải quyết nhờ đối thoại và thương lượng cởi mở, trung thực, kiên trì. Xung đột giữa các nhóm khác biệt “nếu từ khước thù hằn và lòng căm ghét lẫn nhau, nó sẽ dần dần chuyển thành cuộc thảo luận trung thực về những dị biệt dựa trên khát vọng công lý” [228].

245. Trong nhiều dịp, tôi đã nói về “một nguyên tắc không thể thiếu để xây dựng tình hữu nghị xã hội, đó là: hợp nhất thì cao quý hơn xung đột…Nhưng điều này không hẳn lựa chọn hình thái chủ nghĩa chiết trung, hoặc bắt người này hòa lẫn vào kẻ khác, nhưng đúng hơn là chọn lựa giải pháp trên bình diện cao hơn, cũng như duy trì những gì hợp lệ và hữu ích cho cả hai bên” [229]. Tất cả chúng ta đều biết rằng “khi chúng ta trong tư cách cá nhân và cộng đồng học cách nhìn xa hơn bản thân cũng như vượt trên những quyền lợi đặc thù của chúng ta, thì sự thông tri và cam kết hỗ tương sẽ đơm hoa kết trái…nơi bối cảnh mà trong đó xung đột, căng thẳng và thậm chí các nhóm từng bị coi là thù nghịch có thể đạt được sự hợp nhất đa diện vốn làm nảy sinh sức sống mới [230].

KÝ ỨC

  • Đối với những ai đã phải chịu quá nhiều đau khổ bất công và bạo tàn, thì không nên đòi hỏi kiểu “tha thứ mang hơi hướng xã hội”. Hòa giải là hành vi cá vị, và chẳng ai có thể áp đặt nó lên toàn bộ xã hội, cho dù nhu cầu cổ vũ nó lớn lao đến đâu. Trên phương diện hoàn toàn cá vị, một ai đó với quyết định tự do và quảng đại, có thể lựa chọn không đòi buộc trừng phạt (x. Mt 5, 44-46), ngay cả nếu xã hội và hệ thống công lý của nó đòi hỏi hợp pháp. Tuy nhiên, chẳng thể nào tuyên bố “loại hòa giải bao trùm” trong nỗ lực băng bó vết thương bằng cách đưa ra sắc lệnh hoặc dùng tấm áo choàng lãng quên che đậy những bất công. Ai có thể nhân danh người khác thỉnh cầu tha thứ chứ? Thật cảm động khi nhìn thấy nhiều người có thể bỏ qua tổn hại mà họ chịu đựng để tha thứ, nhưng về mặt nhân vị cũng dễ hiểu trong trường hợp họ không thể thứ tha. Dù sao đi nữa, không nhớ đến hoặc bỏ qua chẳng bao giờ là lời giải đáp cả.

247. Không được lãng quên Nạn Diệt chủng Do Thái (Shoah). Nó là “biểu tượng vĩnh viễn của những vực thẳm mà tội ác con người có thể sa xuống khi bị các ý thức hệ sai lạc xô đẩy, nó không nhận ra phẩm giá căn bản của mỗi con người, một điều đáng được tôn trọng vô điều kiện, bất luận nguồn gốc sắc tộc hay niềm tin tôn giáo nào” [231]. Khi nghĩ suy về điều này, tôi không thể không lặp lại lời nguyện cầu: “Lạy Chúa, xin nhớ đến chúng con theo lòng thương xót của Người. Xin rộng ban ơn thiên giúp chúng con biết hổ thẹn về những gì mà loài người chúng con gây ra, biết hổ thẹn vì đã sùng bái ngẫu tượng tràn làn, đã khinh chê và hủy hoại thân xác bản thân mà Người tác tạo từ bụi đất, rồi ban sự sống bằng chính hơi thở sự sống của Người. Đừng để tái diễn lần nào nữa, Chúa ơi, xin đừng để tái diễn bao giờ nữa!” [232].

  • Chúng ta cũng không được quên biến cố Hi-rô-shi-ma và Na-ga-sa-ki bị dội bom nguyên tử. Một lần nữa, “Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng đối với tất cả các nạn nhân, cũng như cúi đầu trước sức mạnh và phẩm giá của những người đã sống sót vào thời khắc đầu tiên ấy, rồi nhiều năm sau đó, đã mang trong thân xác mình nỗi đau tột cùng, và bên trong tinh thần họ, những hạt giống sự chết vốn đã rút cạn dần sinh lực nơi họ…Chúng ta không thể nào cho phép các thế hệ hiện tại và tương lai đánh mất ký ức về những gì đã xảy ra. Một ký ức bảo đảm và khích lệ kiến tạo tương lai công bằng và huynh đệ hơn” [233]. Chúng ta cũng không được quên những cuộc bách hại, buôn bán nô lệ, tàn sát sắc tộc vẫn tiếp diễn ở vô số quốc gia, và nhiều biến cố lịch sử khác khiến chúng ta hổ thẹn về nhân tính của mình. Chúng cần được ghi nhớ, luôn luôn và mãi mãi mới mẻ. Chắc hẳn chúng ta sẽ chẳng bao giờ trở nên quá quen thuộc hoặc nhàm chán với chúng.

249. Ngày nay, chúng ta dễ bị cám dỗ muốn lật sang trang mới, cho rằng tất cả những điều này đã xảy ra từ lâu và chúng ta nên nhìn về tương lai. Ôi, vì Chúa, đừng làm vậy! Chúng ta không bao giờ có thể tiến bước nếu lãng quên quá khứ; chúng ta chẳng thể nào tiến bộ nếu đánh mất ký ức trung thực và thanh thản. Chúng ta cần “giữ cho ngọn lửa lương tâm tập thể sống động, làm nhân chứng giúp các thế hệ kế thừa nhận biết nỗi kinh hoàng của những gì đã xảy ra”, vì hành động chứng tá này “đánh thức và duy trì ký ức của những nạn nhân, ngõ hầu lương tâm nhân loại được trổi dậy khi đối diện với mọi khao khát thống trị và hủy diệt ” [234]. Chính các nạn nhân – cá nhân, nhóm xã hội hay quốc gia – cần phải làm như vậy, kẻo bị sa vào não trạng dẫn tới hành vi biện minh cho sự trả đũa và mọi thứ bạo lực nhân danh cái ác ghê tởm mà họ phải chịu đựng. Vì vậy, tôi thiết nghĩ không chỉ cần ghi nhớ hành động bạo tàn, mà còn nhớ đến tất cả mọi người dù phải sống giữa hiện trạng vô nhân đạo và đồi trụy khủng khiếp, nhưng họ vẫn giữ được nhân phẩm, đã chọn về phía tình liên đới, tha thứ và đệ huynh bằng những cử chỉ dù nhỏ bé hay lớn lao. Ghi nhớ lòng nhân hậu cũng là điều tốt lành.

Tha thứ nhưng không lãng quên

  • Thứ tha không có nghĩa bỏ qua; hoặc đúng hơn, khi đối diện với thực tại bất khả phủ nhận, tương đối hóa hay che giấu, ta vẫn có thể tha thứ. Khi đối mặt với hành động không bao giờ được dung thứ, biện minh hay bào chữa, thì chúng ta vẫn có thể tha thứ. Lúc đối diện với điều gì đó mà chẳng thể quên vì bất kỳ lý do nào, ta vẫn có thể tha thứ. Tha thứ chân thành và tự do rất ư cao đẹp, nó phản chiếu đặc tính hữu năng tha thứ vô biên của Thiên Chúa. Nếu lòng vị tha nhưng không, thì nó có lẽ được biểu lộ ngay cả với những ai cưỡng lại việc ăn năn hối cải và chẳng thể nào nài xin thứ tha.

251. Người thật lòng tha thứ vẫn không lãng quên. Thay vào đó, họ chẳng chịu nhượng bộ trước sức mạnh hủy diệt đã từng gây ra biết bao đau khổ khốn cùng. Họ phá vỡ cái vòng luẩn quẩn, ngăn chặn bước tiến của các thế lực hủy diệt. Họ nhất định không loan truyền tinh thần trả thù trong xã hội, một tinh thần sớm muộn gì cũng sẽ trở lại đòi trả giá. Thực sự, hành vi báo thù chẳng bao giờ khiến nạn nhân hả dạ cả. Một vài tội ác khủng khiếp và tàn nhẫn đến nỗi hình phạt cho những kẻ phạm phải, không thể nào dùng để sửa chữa tổn hại đã gây ra. Ngay cả kết liễu tội nhân cũng chưa đủ, và bất cứ hình thức tra tấn nào cũng chẳng thể nào chứng minh tương xứng với những khổ đau đã trót gây ra cho nạn nhân. Trả thù không giải quyết được gì.

252. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là miễn trừng phạt. Công lý được tìm kiếm thích đáng chỉ vì tình yêu công lý, vì tôn trọng nạn nhân, như một phương thế ngăn ngừa tội ác mới và bảo vệ ích lợi chung, chứ chẳng phải trở thành lối thoát cho cơn tức giận cá nhân. Tha thứ chính là hành động trợ giúp chúng ta theo đuổi công lý, mà không bị rơi vào vòng xoáy của oán hận báo thù hay nạn bất công lãng quên.

253. Khi bất công xảy ra cho cả hai bên, thì điều quan trọng cần phải xem xét rõ ràng là chúng trầm trọng như nhau hay có thể so sánh bằng bất cứ phương cách nào hay không. Bạo lực do nhà nước sử dụng các cơ cấu và quyền lực của mình tạo ra không cùng tầm mức với bạo lực mà bè nhóm đặc thù gây ra. Dù sao chăng nữa, người ta cũng không thể tưởng niệm nỗi tan thương bất công của một bên được. Chư huynh Giám mục Croa-ti-a đã tuyên bố rằng: “chúng ta chịu ơn kính nhớ mọi nạn nhân vô tội như nhau. Không thể có sự khác biệt về chủng tộc, quốc gia, tuyên tín hoặc đảng phái” [235].

254. Tôi cầu xin Thiên Chúa “chuẩn bị tâm hồn chúng ta để gặp gỡ anh chị em của mình, ngõ hầu chúng ta có thể vượt qua các dị biệt bắt nguồn từ tư duy chính trị, ngôn ngữ, văn hóa và tôn giáo. Chúng ta hãy cầu xin Người thánh hoá toàn bộ con người chúng ta bằng dầu xót thương của Người, dầu thánh vốn chữa lành mọi bất công do sai lạc, hiểu lầm và tranh chấp gây ra. Hơn nữa, chúng ta xin Người ban ơn sai đi, hầu chúng ta tiến bước trong khiêm nhường và hiền lành, trên nẻo đường tìm kiếm hòa bình với biết bao đòi hỏi thử thách, nhưng khiến chúng ta trở nên phong phú dường bao” [236].

CHIẾN TRANH VÀ ÁN TỬ HÌNH

255. Hai tình huống cực đoan đôi khi được xem như giải pháp trong những hoàn cảnh đặc biệt bi thảm, mà người ta không nhận ra đó là giải đáp sai lầm, chẳng hề giải quyết được vấn đề nào vốn để tháo gỡ và sau cùng không thể làm gì khác hơn ngoài việc du nhập các yếu tố mới huỷ hoại kết cấu xã hội quốc gia cũng như hoàn cầu. Và đó chính là chiến tranh và án tử hình.

Sự bất công của chiến tranh

  1. “Lòng kẻ mưu điều ác chất đầy chuyện lừa đảo, người cổ vũ hoà bình được chan chứa niềm vui” (Cn 12, 20). Tuy nhiên, lại có những người tìm kiếm giải pháp trong chiến tranh, mà nó thường xuyên bị thêm dầu vào lửa do mối liên hệ đổ vỡ, tham vọng bá quyền, lạm dụng quyền lực, sợ hãi người khác và có xu hướng coi tính đa dạng là trở ngại [237]. Chiến tranh không phải bóng ma từ dĩ vãng, mà là mối đe dọa thường trực. Thế giới chúng ta đang đối mặt với những khó khăn ngày càng gia tăng trên con đường tiệm tiến dẫn tới hòa bình, mà nó đã khởi diễn và bắt đầu đơm hoa kết trái tốt đẹp.

257. Vì các điều kiện hậu thuẫn cho chiến tranh nổ ra lại gia tăng, nên tôi chỉ có thể nhắc lại rằng “chiến tranh phủ nhận mọi quyền lợi và là cuộc tấn công bi đát vào môi trường. Nếu chúng ta mong muốn phát triển con người toàn diện đích thực cho hết thảy mọi người, chúng ta phải ra sức làm việc liên lỉ, hầu tránh chinh chiến giữa các quốc gia và dân tộc. Để đạt được mục tiêu này, cần phải bảo đảm nguyên tắc thượng tôn pháp luật và bền bỉ sử dụng phương cách thương lượng, hòa giải và trọng tài, như đã được Hiến chương Liên hiệp quốc đề xướng, mà nó thực sự trở thành quy phạm pháp chế nền tảng” [238]. Bảy mươi lăm năm kể từ khi Liên hiệp quốc được thành lập và kinh nghiệm hai mươi năm đầu tiên của thiên niên kỷ này đã lột tả việc áp dụng đầy đủ các quy phạm quốc tế thực sự hiệu quả, còn không tuân thủ những quy tắc đó lại gây ra tai hại. Hiến chương Liên hiệp quốc là điểm tham chiếu công lý bắt buộc, cũng như khí cụ hòa bình, khi nó được tuân thủ và áp dụng một cách minh bạch và chân chính. Ở đây không có chỗ cho việc ngụy tạo những ý định sai trái hoặc đặt quyền lợi đảng phái của một quốc gia hoặc bè nhóm lên trên thiện ích chung hoàn cầu. Nếu bộ quy tắc chỉ được đánh giá như các phương tiện dùng bất kỳ lúc nào để tỏ ra lợi thế, và bị bỏ qua khi bất lợi, thì những thế lực bất trị sẽ xổ lồng gây tổn hại nghiêm trọng cho xã hội, cho người nghèo và người dễ bị tổn thương, cho các mối tương quan huynh đệ, cho môi trường và di sản văn hóa, với biết bao mất mát không thể phục hồi lại cho cộng đồng toàn cầu.

258. Chiến tranh có lẽ dễ dàng được lựa chọn bằng việc viện dẫn mọi lý do mang tính nhân đạo, phòng thủ hoặc đề phòng, và thậm chí còn dùng tình thế thao túng thông tin. Trong những thập niên gần đây, mọi cuộc chiến tranh đơn nhất đều có vẻ “chính đáng”. Sách Giáo lý Giáo Hội Công Giáo trình bày về tính khả thể phòng vệ chính đáng bằng sức mạnh quân sự, bao gồm lối chứng minh cho một số “điều kiện nghiêm ngặt của tính hợp pháp về mặt luân lý” [239] đã được đáp ứng. Tuy nhiên, rất dễ rơi vào cách biện giải quá rộng về quyền tiềm năng này. Như vậy, một số người cũng có thể biện minh sai lầm cả những cuộc tấn công “phòng ngự” hoặc các hoạt động chiến tranh khó tránh khỏi việc kéo theo “vô số tội ác và hỗn loạn tệ hại hơn cả tội ác cần được loại bỏ” [240]. Vấn đề là từ ngày phát triển các loại vũ khí hạt nhân, hóa học và sinh học, cũng như những khả thể to lớn và ngày càng gia tăng nhờ vào khoa học kỹ thuật tân tiến, đã có thêm một sức mạnh hủy diệt gây ra chiến tranh mà không ai kiểm soát nổi, đang tác oai tác quái lên vô số dân thường vô tội. Quả thật, “nhân loại chưa bao giờ sở hữu sức mạnh như vậy trên chính mình, nhưng cũng chẳng có gì bảo đảm họ sẽ sử dụng nó một cách khôn ngoan” [241]. Do đó, chúng ta sẽ không còn nghĩ suy về chiến tranh như một giải pháp nữa, vì chưng rủi ro của nó có lẽ luôn lớn hơn những lợi ích giả định mà người ta vốn gán cho nó. Ngày nay, khi đứng trước thực tại này, rất khó bênh vực các tiêu chuẩn hợp lý, từng được soạn thảo công phu vào hàng thế kỷ trước kia, để trình bày về một cuộc “chiến tranh chính nghĩa” có thể diễn ra. Ước gì lửa binh chiến chinh chẳng bao giờ lặp lại nữa! [242].

  • Cần phải nói thêm rằng, với tình trạng toàn cầu hoá gia tăng, điều xem ra như giải pháp tức thì hoặc thiết thực cho một phần của thế giới sẽ khởi diễn chuỗi mắc xích các hậu quả bạo lực và thường tiềm ẩn, kết cuộc gây tác hại cho toàn bộ hành tinh, và mở đường cho những cuộc chiến tranh mới tồi tệ hơn trong tương lai. Trong thế giới ngày nay, không còn đơn thuần nổ ra chiến tranh đơn lẻ tại quốc gia này hay ở quốc gia nọ, mà chúng ta đang trải qua một “cuộc chiến tranh thế giới từng phần”, bởi lẽ vận mệnh các quốc gia được liên kết chặt chẽ với nhau trên khung cảnh hoàn cầu.

260. Theo lời Thánh Giáo hoàng Gio-an XXIII, “chủ trương cho rằng chiến tranh là công cụ thích đáng để sửa chữa sai phạm công bình là điều không còn ý nghĩa gì nữa” [243]. Khi đưa ra quan điểm này giữa bối cảnh căng thẳng quốc tế lớn lao, ngài đã nói lên khát vọng hòa bình ngày càng gia tăng trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Ngài ủng hộ xác quyết cho rằng các lập luận hậu thuẫn hòa bình mạnh mẽ hơn bất cứ toan tính nào về quyền lợi đặc thù và niềm tin nào vào việc sử dụng vũ khí. Tuy nhiên, chẳng có cơ hội nào được nắm bắt vào cuối thời kỳ Chiến tranh Lạnh, vì lẽ thiếu viễn kiến cho tương lai và ý thức dự phần về vận mệnh chung của chúng ta. Thay vào đó, việc theo đuổi quyền lợi đảng phái mà không đề cao thiện ích phổ quát lại là điều dễ dàng hơn nhiều. Do đó, bóng ma chiến tranh hãi hùng đã bắt đầu đạt được nền tảng mới.

261. Mọi cuộc chiến đều khiến thế giới chúng ta trở nên tồi tệ hơn trước. Chiến tranh là sự thất bại của nền chính trị và của nhân loại, một thoả ước đầu hàng đáng xấu hổ, cuộc bại trận nhức nhối trước các thế lực xấu xa. Chúng ta đừng sa vào vũng lầy của các cuộc thảo luận lý thuyết, nhưng hãy chạm vào xác thịt tan thương của nạn nhân. Một lần nữa, chúng ta hãy nhìn vào những vụ giết hại thường dân được coi như “thiệt hại phụ”. Chúng ta hãy hỏi chính các nạn nhân. Chúng ta cùng nghĩ tới người tị nạn và di tản, những ai chịu hậu quả của phóng xạ nguyên tử hoặc các cuộc tấn công bằng vũ khí hóa học, những người mẹ mất con, những cậu bé và cô bé bị tàn tật hoặc bị tước mất tuổi thơ. Chúng ta hãy nghe các câu chuyện thật về những nạn nhân bị bạo hành này, hãy nhìn vào thực tại với nhãn quan của họ và chú tâm lắng nghe những câu chuyện họ kể với cả con tim rộng mở. Bằng cách này, chúng ta mới có thể nắm bắt được vực thẳm tàn ác ngay tại trọng điểm chiến tranh. Vả lại, chúng ta cũng sẽ không bối rối khi bị coi là ngây ngô vì lựa chọn hòa bình.

262. Các quy tắc tự nó sẽ chẳng đầy đủ, nếu chúng ta tiếp tục nghĩ rằng giải pháp cho những vấn đề hiện tại là dùng nỗi sợ hãi răn đe hoặc đe dọa bằng vũ khí hạt nhân, hóa học hoặc sinh học. Thật vậy, “nếu chúng ta xem xét các mối đe dọa chính yếu đối với hòa bình và an ninh dưới nhiều phương diện trong thế giới đa cực của thế kỷ XXI này, chẳng hạn như: chủ nghĩa khủng bố, xung đột bất đối xứng, an ninh mạng, vấn đề môi trường, nghèo đói, thì không ít nghi ngờ sẽ nảy sinh, liên quan đến sự bất cập của khả năng răn đe hạt nhân như lời đáp trả hữu hiệu cho các thách thức ấy. Lo ngại này càng lớn hơn khi chúng ta xem xét những hậu quả thảm khốc về nhân đạo và môi trường sẽ xảy ra ngay sau việc sử dụng bất kỳ vũ khí hạt nhân nào, với các hệ quả tàn phá, bừa bãi, bất khả kiểm soát theo dòng thời gian và trong không gian…Chúng ta cũng cần tự hỏi mình: tính ổn định dựa trên nỗi sợ hãi sẽ bền vững ra sao, khi nó thực sự gia tăng kinh hãi và đục khoét mối liên hệ tin cậy giữa các dân tộc. Hòa bình và ổn định quốc tế không thể dựa trên cảm thức an toàn giả tạo, hay dựa trên mối đe dọa triệt hạ lẫn nhau hoặc huỷ diệt hoàn toàn, hoặc đơn giản chỉ duy trì cân bằng quyền lực…Trong bối cảnh này, mục tiêu cuối cùng của việc loại bỏ hoàn toàn vũ khí hạt nhân trở thành một thách thức và mệnh lệnh luân lý cũng như nhân đạo…Sự phụ thuộc lẫn nhau và tình trạng toàn cầu hóa ngày càng gia tăng có nghĩa là bất cứ giải đáp nào cho mối đe dọa vũ khí hạt nhân đều phải mang tính tập thể, phối hợp, dựa trên lòng tin cậy lẫn nhau. Niềm tin tưởng này chỉ có thể được xây dựng nhờ vào cuộc đối thoại thực sự hướng tới lợi ích chung, chứ không nhằm bảo vệ ích lợi ẩn tàn hoặc đặc thù” [244]. Với kinh phí cho vũ khí và các chi tiêu quân sự khác, thay vào đó, chúng ta hãy thành lập một quỹ hoàn cầu [245], nhằm sau cùng có thể chấm dứt nạn đói và tạo điều kiện cho các nước nghèo nhất phát triển, ngõ hầu công dân của họ sẽ không dùng đến những giải pháp bạo lực hoặc viển vông, hay phải rời khỏi quê hương để tìm kiếm cuộc sống xứng đáng hơn.

Án tử hình

  • Có một cách khác để loại bỏ tha nhân, nó không nhắm vào các quốc gia, nhưng nhắm tới những cá nhân. Đó chính là án tử hình. Thánh Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II đã tuyên bố rõ ràng và xác quyết rằng hình phạt tử hình không phù hợp với quan điểm luân lý và xét trên bình diện công lý hình sự, nó chẳng còn cần thiết nữa [246]. Nhưng oái ăm thay, chúng ta không thể lùi bước, thoát khỏi chủ trương này. Ngày nay chúng ta khẳng định rõ ràng rằng “án tử hình không được chấp nhận” [247] và Giáo hội kiên quyết dấn thân kêu gọi bãi bỏ hình phạt này trên toàn thế giới [248].

264. Theo sách Tân Ước, trong khi các cá nhân được yêu cầu không được tự mình đoạt lấy công lý (x. Rm 12, 17.19), thì cũng tồn tại thừa nhận nhu cầu cần đến thẩm quyền áp chế những hình phạt lên kẻ bất lương (x. Rm 13, 4; 1Pr 2, 14). Thật vậy, “đời sống dân sự được kiến tạo xoay quanh một cộng đồng quy cũ, cần đến các quy tắc sống chung, nếu cố ý vi phạm, buộc phải có biện pháp uốn nắn thích đáng” [249]. Nghĩa là thẩm quyền công hợp pháp có thể và phải “đưa ra án phạt tùy theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm” [250], cũng như quyền tư pháp phải được bảo đảm “sự độc lập cần thiết trong lĩnh vực luật pháp” [251].

265. Từ những thế kỷ đầu tiên của Giáo hội, một số người đã kịch liệt phản đối án phạt tử hình. Thí dụ, Lac-tan-ti-ô cho rằng “không nên đưa ra trường hợp ngoại lệ nào cả; bởi lẽ sát hại một người luôn luôn bất hợp pháp” [252]. Đức Giáo hoàng Ni-cho-la I đã thúc giục thực hiện các nỗ lực “nhằm giải thoát khỏi án tử hình không chỉ cho mỗi cá nhân vô tội, mà cho toàn thể phạm nhân nữa” [253]. Trong phiên tòa xét xử những kẻ sát hại hai linh mục, Thánh Âu-gus-ti-nô đã yêu cầu thẩm phán không lấy mạng họ với lý lẽ này: “Chúng tôi chẳng phản đối việc quan toà tước quyền tự do của những kẻ xấu xa này nhằm ngăn họ phạm tội thêm. Mong muốn của chúng tôi là đừng lấy đi mạng sống họ và không làm họ thương tật bất cứ bộ phận nào trên cơ thể. Đồng thời, bằng các biện pháp cưỡng chế do luật pháp quy định, họ nên được cải hoá từ người giận dữ phi lý thành người thanh thản sở hữu tâm trí lành mạnh, và hoán cải từ hành vi xấu xa thành hành động hữu ích nào đó. Điều này cũng được xem như một bản kết án, nhưng đối với những ai không nhận ra khi bạo lực man rợ được kiềm hãm, và liệu pháp mang lại cho họ cơ hội hoán cải, thì nên coi đây như một ơn ích hơn là biện pháp trừng phạt đơn thuần…Đừng để tính hung bạo tội lỗi của họ nuôi dưỡng khát vọng trả thù, nhưng thay vào đó, ước muốn chữa lành vết thương mà chính hành vi của bản thân đã gây ra nỗi đau trong tâm hồn họ” [254]. 

266. Sợ hãi và phẫn nộ có lẽ dễ dàng dẫn đến cách nhìn hình phạt theo lối đầy dẫy báo thù và thậm chí tàn nhẫn, hơn là một phần của tiến trình chữa lành và tái hòa nhập vào xã hội. Ngày nay, “trong một số lĩnh vực chính trị và phương tiện truyền thông nào đó, bạo lực và trả thù chung cũng như cá nhân bị kích động, không chỉ chống lại những kẻ phạm tội phải chịu trách nhiệm, mà còn phản đối kẻ tình nghi vi phạm pháp luật, bất luận đã được chứng minh hay không…Đôi lúc tồn tại xu hướng cố tình bịa đặt ra kẻ thù: những nhân vật bị rập khuôn, đại diện cho mọi đặc điểm mà xã hội tri nhận hoặc được giải thích mang tính đe dọa. Các cơ chế tạo ra những hình ảnh này y hệt các cơ chế đã cho phép việc loan truyền vô số ý niệm phân biệt chủng tộc trong thời đại của họ” [255]. Điều này càng gây thêm nguy cơ cho việc thực hành ngày một gia tăng ở vài quốc gia vốn dùng đến biện pháp giam giữ ngăn ngừa, bỏ tù không xét xử và đặc biệt án tử hình.

267. Ở đây tôi muốn nhấn mạnh: “không thể tưởng tượng được các quốc gia ngày nay chẳng có biện pháp nào khác ngoài hình phạt tử hình để bảo vệ cuộc sống của người dân khỏi những kẻ xâm lược bất chính”. Xét về phương diện này, đặc biệt nghiêm trọng nơi các vụ hành quyết được gọi là phi tư pháp hoặc phi pháp luật, nhưng thực chất là “những vụ sát hại cố ý, do một số quốc gia và đặc vụ của họ gây ra, thường được xem như các cuộc đụng độ với tội phạm, hoặc được giải trình chỉ là hậu quả sơ ý của việc vận dụng sức mạnh hợp lý, cần thiết và tương xứng khi áp dụng pháp luật ” [256].

268. “Các lập luận chống lại án tử hình vô kể và ai cũng biết tới. Giáo hội đã chính thức kêu gọi chú ý đến một số luận cứ này, chẳng hạn như khả thể sai sót tư pháp, việc sử dụng hình phạt như vậy do những chế độ độc tài toàn trị như phương tiện đàn áp bất đồng chính kiến hoặc đàn áp các nhóm thiểu số tôn giáo và văn hóa, tất cả đều là nạn nhân mà pháp luật của những chế độ đó xem như ‘phạm pháp’. Hết thảy Ki-tô hữu và mọi người thiện chí ngày nay được kêu mời hành động không chỉ để xóa bỏ án tử hình dưới mọi hình thức, dù hợp pháp hay bất hợp pháp, mà còn cải thiện tình trạng nhà tù, dựa trên sự tôn trọng phẩm giá của những con người bị tước mất tự do. Ngoài ra, tôi muốn liên kết điều này với án tù chung thân…Bản án chung thân là án tử hình kín đáo” [257].

269. Chúng ta nên ghi nhớ rằng “ngay cả kẻ sát nhân cũng chẳng đánh mất phẩm giá của bản thân, và chính Thiên Chúa cam kết bảo đảm điều này” [258]. Hành động kiên quyết bác bỏ án tử hình cho thấy chúng ta có thể thừa nhận phẩm giá bất khả chuyển nhượng của mỗi con người và chấp nhận họ có một vị thế trong vũ trụ này. Nếu tôi không bác bỏ phẩm giá đó của kẻ tồi tệ nhất trong các phạm nhân, thì tôi sẽ chẳng chối từ phẩm giá của bất cứ ai. Tôi sẽ dành cho mọi người khả thể chia sẻ hành tinh này với tôi, bất luận mọi dị biệt của chúng ta.

270. Tôi thỉnh cầu các Ki-tô hữu còn do dự về điểm này và những ai bị cám dỗ muốn chiều theo bạo lực dưới bất cứ hình thức nào, hãy ghi nhớ những lời trong sách ngôn sứ I-sai-a: “Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày” (2, 4). Đối với chúng ta, lời tiên báo này đã được ứng nghiệm nơi Đức Giê-su Ki-tô, Người quả quyết khi trông thấy một môn đệ bị cám dỗ dùng bạo lực: “Hãy xỏ gươm vào vỏ, vì tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm” (Mt 26, 52). Những lời này âm vang vọng lại lời cảnh báo cổ xưa: “Ta sẽ đòi mỗi người phải đền mạng sống của người anh em mình. Ai đổ máu con người, thì máu nó sẽ bị con người đổ ra” (St 9, 5-6). Phản ứng của Đức Giê-su phát xuất từ chính tâm hồn đã nối kết khoảng cách của nhiều thế kỷ, rồi tiếp đến thời hiện tại như một lời kêu gọi trường kỳ.

Chuyển ngữ: Lm. Xuân Hy Vọng

CHÚ THÍCH

[209] Sứ điệp Hòa Bình Thế giới năm 2020 (8/12/2019), 2: Tờ Quan sát viên Rô-ma, 13/12/2019, tr. 8.
[210] Hội đồng Giám mục Con-gô, Sứ điệp gửi Dân Chúa và Tất cả những ai thiện chí (9/5/2018).
[211] Diễn văn tại Cuộc Gặp gỡ Hòa giải Quốc gia, Villavicencio, Cô-lôm-bi-a (8/9/2017): AAS 109 (2017), 1063-1064, 1066.
[212] Sứ điệp Hòa Bình Thế giới năm 2020 (8/12/2019), 3: Tờ Quan sát viên Rô-ma, 13/12/2019, tr. 8.
[213] Hội đồng Giám mục Nam Phi, Thư Mục vụ về Lòng cậy trông Ki-tô giáo giữa Cuộc khủng hoảng Đương thời (5/1986).
[214] Hội đồng Giám mục Hàn Quốc, Giáo hội Công giáo Hàn Quốc Kêu gọi Tái thiết Hoà bình trên Bán đảo Triều Tiên (15/8/2017).
[215] Gặp gỡ Các Nhà Lãnh đạo Chính trị, Kinh tế và Dân sự, Quito, Ê-cu-a-dor (7/7/2015): Tờ Quan sát viên Rô-ma, 9/7/2015, tr. 9.
[216] Gặp gỡ Giới trẻ Liên tôn, Maputo, Mô-zăm-bic (5/9/2019): Tờ Quan sát viên Rô-ma, 6/9/2019, tr. 7.
[217] Bài giảng, Cartagena de Indias, Cô-lôm-bi-a (10/9/2017): AAS 109 (2017), 1086.
[218] Gặp gỡ Nhà Cầm quyền, Ngoại giao đoàn và Đại diện Xã hội Dân sự, Bogotá, Cô-lôm-bi-a (7/9/2017): AAS 109 (2017), 1029.
[219] Hội đồng Giám mục Cô-lôm-bi-a, Vì lợi ích Quê hương Cô-lôm-bi-a: Đối thoại, Hoà giải và Phát triển toàn vẹn (26/11/2019), 4.
[220] Gặp gỡ Nhà Cầm quyền, Ngoại giao đoàn và Đại diện Xã hội Dân sự, Maputo, Mô-zăm-bic (5/9/2019): Tờ Quan sát viên Rô-ma, 6/9/2019, tr. 6.
[221] Hội nghị Khoáng đại lần thứ V của Hội đồng Giám mục Nam Mỹ và Ca-ri-bê, Văn kiện Aparecida (29/6/2007), 398.
[222] Tông huấn Evangelii Gaudium (24/11/2013), 59: AAS 105 (2013), 1044.
[223] Thông điệp Centesimus Annus (1/5/1991), 14: AAS 83 (1991), 810.
[224] Bài giảng trong Thánh lễ cầu cho Các Dân tộc Thăng tiến, Maputo, Mô-zăm-bic (6/9/2019): Tờ Quan sát viên Rô-ma, 7/9/2019, tr. 8.
[225] Nghi lễ Đón tiếp, Colombo, Sri Lanka (13/1/2015): Tờ Quan sát viên Rô-ma, 14/1/2015, tr. 7.
[226] Gặp gỡ Các Trẻ em “Trung tâm Bê-ta-ni-a” và Đại diện Trung tâm Bác ái của Al-ba-ni-a, Tirana, Al-ba-ni-a (21/9/2014): Insegnamenti (Giáo huấn) II, 2 (2014), 288.
[227] Sứ điệp Video dành cho Hội nghị TED tại Vancouver (26/4/2017): Tờ Quan sát viên Rô-ma, 27/4/2017, tr. 7.
[228] Đức Giáo hoàng Pi-ô XI, Thông điệp Quadragesimo Anno (15/5/1931): AAS 23 (1931), 213.
[229] Tông huấn Evangelii Gaudium (24/11/2013), 228: AAS 105 (2013), 1113.
[230] Gặp gỡ Nhà Cầm quyền, Ngoại giao đoàn và Đại diện Xã hội Dân sự, Riga, Lát-vi-a (24/9/2018): Tờ Quan sát viên Rô-ma, 24-25/9/2018, tr. 7.
[231] Nghi lễ Đón tiếp, Tel Aviv, Is-ra-el (25/5/2014): Insegnamenti (Giáo huấn) II, 1 (2014), 604.
[232] Viếng Đài tưởng niệm Yad Vashem, Giê-ru-sa-lem (26/5/2014): AAS 106 (2014), 228.
[233] Diễn văn tại Đài tưởng niệm Hòa bình, Hi-rô-shi-ma, Nhật Bản (24/11/2019): Tờ Quan sát viên Rô-ma, 25-26/11/2019, tr. 8.
[234] Sứ điệp Hòa bình Thế giới năm 2020 (8/12/2019), 2: Tờ Quan sát viên Rô-ma, 13/12/2019, tr. 8.
[235] Hội đồng Giám mục Croa-ti-a, Thư chung nhân dịp Kỷ niệm 50 năm Thế chiến Thứ hai Kết thúc (1/5/1995).
[236] Bài giảng, Amman, Jor-đan (24/5/2014): Insegnamenti (Giáo huấn) II, 1 (2014), 593.
[237] x. Sứ điệp Hòa bình Thế giới năm 2020 (8/12/2019), 1: Tờ Quan sát viên Rô-ma, 13/12/2019, tr. 8.
[238] Diễn văn trước Các Thành viên Đại Hội đồng Liên hiệp quốc, New York (25/9/2015): AAS 107 (2015), 1041-1042.
[239] số 2309.
[240] Nt.
[241] Thông điệp Laudato Si’ (24/5/2015), 104: AAS 107 (2015), 888.
[242] Thánh Âu-gus-ti-nô, người đã đưa ra ý niệm “cuộc chiến chính nghĩa” mà chúng ta không còn duy trì thời nay nữa, cũng nói rằng “Duy trì chiến tranh bằng ngôn từ thì vinh quang cao quý hơn là sát hại con người bằng gươm giáo, cũng như duy trì hoặc mang lại hòa bình bằng hòa bình, chứ không phải chiến tranh” (Epistola [Thư] 229, 2: PL 33, 1020).
[243] Thông điệp Pacem in Terris (11/4/1963): AAS 55 (1963), 291.
[244] Sứ điệp gửi Hội nghị Liên Hiệp Quốc nhằm Thương thảo Tìm ra Phương thế Trói buộc Hợp pháp để Ngăn cấm Vũ khí Hạt nhân (23/3/2017): AAS 109 (2017), 394-396.
[245] x. Thánh Giáo hoàng Phao-lô VI, Thông điệp  Populorum Progressio (26/3/1967): AAS 59 (1967), 282.
[246] x. Thông điệp  Evangelium Vitae (25/3/1995), 56: AAS 87 (1995), 463-464.
[247] Diễn văn nhân dịp Kỷ niệm 25 năm Công bố Sách Giáo lý Giáo hội Công giáo (11/10/2017): AAS 109 (2017), 1196.
[248] x. Bộ Giáo lý Đức tin, Thư gửi Các Giám mục đề cập đến việc Cải biên số 2267 Sách Giáo lý Giáo hội Công giáo nói về Án tử hình (1/8/2018): Tờ Quan sát viên Rô-ma, 3/8/2018, tr. 8.
[249] Diễn văn dành cho các Đại biểu Hiệp hội Luật hình sự Quốc tế (23/10/2014): AAS 106 (2014), 840.
[250] Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, Hợp tuyển Giáo huấn Xã hội của Giáo hội, 402.
[251] Thánh Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II, Diễn văn dành cho Hiệp hội Thẩm phán Quốc gia (31/3/2000), 4: AAS 92 (2000), 633.
[252] Divinae Institutiones (Linh Viện) VI, 20, 17: PL 6, 708.
[253] Epistola (Thư) 97 (Lời giải đáp cho nhóm người Bul-ga), 25: PL 119, 991. “ipsi (Christo) non solum innoxios quosque, verum etiam et noxios a mortis exitio satagite cunctos eruere…” (tạm dịch: “Người Ki-tô hữu không chỉ vô hại, mà còn bị ám chỉ liên quan đến việc tiêu diệt những ai nỗ lực giải cứu…”)
[254] Epistola ad Marcellinum (Thư gửi Thẩm phán Mar-sê-li-nô) 133, 1.2: PL 33, 509.
[255] Diễn văn dành cho các Đại biểu Hiệp hội Luật hình sự Quốc tế (23/10/2014): AAS 106 (2014), 840-841.
[256] Nt, 842.
[257] Nt.
[258] Thánh Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II, Thông điệp  Evangelium Vitae (25/3/1995), 9: AAS 87 (1995), 411.

………………………………………………………………………………………………………………………

CHƯƠNG VIII:

CÁC TÔN GIÁO PHỤC VỤ TÌNH HUYNH ĐỆ TRONG THẾ GIỚI CHÚNG TA

271. Dựa trên nền tảng tôn trọng mỗi con người như một tạo vật được mời gọi làm con cái Thiên Chúa, các tôn giáo khác nhau đều góp phần đáng kể vào việc xây dựng tình huynh đệ và bảo vệ công lý trong xã hội. Đối thoại giữa những tín đồ tôn giáo khác biệt không diễn ra đơn giản chỉ vì mục đích ngoại giao, ân cần hay khoan dung. Theo lời của chư huynh Giám mục Ấn Độ, “mục tiêu của đối thoại chính là thiết lập tình hữu nghị, hòa bình và hòa hợp, cũng như chia sẻ các giá trị tâm linh và luân lý, với những cảm nghiệm trong tinh thần chân lý và tình yêu” [259].

NỀN TẢNG TỐI HẬU

272. Là tín hữu, chúng ta xác tín rằng, nếu không mở toan cõi lòng với Cha chung của mọi người, thì chẳng có lý do nào mà vững chắc và ổn định nhằm kêu gọi tình huynh đệ cả. Chúng ta quả quyết: “chỉ với ý thức này, chúng ta sẽ không mồ côi, nhưng là con cái, có thể sống hòa bình với nhau” [260]. Bởi lẽ “lý trí tự nó sở hữu khả năng nắm bắt sự bình đẳng giữa con người và mang lại tính ổn định cho việc chung sống dân sự, nhưng nó không thể thiết lập tình huynh đệ” [261].

273. Về phương diện này, tôi xin trích dẫn tuyên bố đáng nhớ sau đây: “Nếu như không có chân lý siêu việt, nhờ vâng phục chân lý đó, con người đạt tới căn tính trọn vẹn của mình, thì chẳng có một nguyên tắc nào chắc chắn có thể bảo đảm cho những tương quan đúng đắn giữa con người với nhau. Các lợi ích riêng tư của giai cấp, phe nhóm hoặc dân tộc khiến họ khó lòng tránh khỏi đối chọi với nhau. Nếu chân lý siêu việt không được nhìn nhận, thì sức mạnh của quyền bình sẽ làm bá chủ, và mỗi người đều có khuynh hướng tận dụng tối đa các phương tiện mình đang có, để áp đặt tư lợi hoặc ý kiến riêng, không hề quan tâm đến những quyền lợi của người khác…Gốc rễ của chủ nghĩa toàn trị hiện đại nằm ở thái độ chối bỏ phẩm giá siêu việt của ngôi vị con người, hình ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình, và vì thế, do chính bản tính của mình, con người là chủ thể những quyền mà không một ai, dù là cá nhân, đoàn thể, giai cấp, dân tộc hay nhà nước có thể xâm phạm. Ngay cả đa số trong một đoàn thể xã hội cũng không thể xâm phạm các quyền đó bằng cách chống lại thiểu số” [262].

274. Từ cảm nghiệm đức tin và sự khôn ngoan tích lũy qua nhiều thế kỷ, rồi cũng từ những bài học rút ra từ nhiều nhược điểm cũng như thất bại của mình, chúng ta, các tín nhân thuộc vô số tôn giáo khác biệt, biết rằng sống chứng tá cho Thiên Chúa mang ích lợi cho xã hội chúng ta. Nỗ lực tìm kiếm Thiên Chúa với tấm lòng chân thành, miễn là không bao giờ để các mục đích ý thức hệ hoặc tư lợi làm chúng ta nhụt chí, điều này giúp chúng ta nhìn nhận nhau như những người bạn đồng hành, là anh chị em thật sự. Chúng ta xác quyết rằng “khi nhân danh một ý thức hệ vốn toan tính loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi xã hội, thì kết cuộc xã hội đó sẽ tôn thờ ngẫu tượng, và chẳng bao lâu mọi người, nam hay nữ sẽ lạc lối, còn nhân phẩm của họ sẽ bị chà đạp và các quyền lợi của họ bị xâm phạm. Các bạn thấu tỏ người ta đã gây ra biết bao đau khổ do khước từ tự do lương tâm và tự do tôn giáo, hơn nữa, vết thương đó để lại một nhân loại nghèo hèn ra sao, bởi lẽ thiếu niềm hy vọng và lý tưởng dẫn đường” [263].

275. Cần phải nhìn nhận rằng “trong số những nguyên nhân trọng yếu nhất gây ra các cuộc khủng hoảng thế giới hiện đại, đó là lương tâm con người đã trở nên vô cảm, xa rời giá trị tôn giáo, còn chủ nghĩa cá nhân lan tràn kèm theo triết thuyết duy vật chuyên thần thánh hóa con người và du nhập các giá trị vật chất trần tục để thay thế những nguyên tắc tối cao, siêu việt” [264]. Thật là sai lầm khi tiếng nói duy nhất được nghe thấy trong cuộc tranh luận công khai chỉ là tiếng nói của những người quyền lực và “các chuyên gia”. Cần dành chỗ cho nhiều suy tư phát sinh từ vô số truyền thống tôn giáo, vốn là kho lưu trữ kinh nghiệm và khôn ngoan suốt hàng thế kỷ. Vì “các tác phẩm cổ điển tôn giáo có thể được minh chứng hết sức ý nghĩa trong mỗi thời đại; chúng có một sức mạnh bền bỉ [hầu mở ra những chân trời mới, kích thích tư tưởng, mở rộng tâm trí và con tim]”. Tuy nhiên, chúng thường bị xem thường, bị coi như là kết quả của “chủ nghĩa duy lý thiển cận nào đó” [265].

276. Vì những lý do trên, trong khi tôn trọng quyền tự trị của sinh hoạt chính trị, Giáo hội không hạn chế sứ mệnh của mình trong phạm vi riêng tư. Trái lại, “Giáo Hội không thể và không được đứng mãi bên lề” trong công cuộc kiến tạo một thế giới tốt đẹp hơn, hoặc chẳng “thức tỉnh năng lực tinh thần trở lại”, mà nó vốn góp phần xây dựng xã hội tươi đẹp hơn [266]. Đúng là tu sĩ nam nữ không được tham gia vào chính trị đảng phái, vì nó là lĩnh vực riêng của thành phần giáo dân, nhưng đừng từ bỏ chiều kích chính trị nơi cuộc sống [267], chiều kích liên quan đến việc lưu ý không ngừng tới công ích và quan tâm phát triển con người toàn diện. Giáo hội “có vai trò cộng đồng ngoài các hoạt động bác ái và giáo dục của mình”. Giáo hội ra sức làm việc cho “sự thăng tiến của nhân loại và tình huynh đệ phổ quát” [268]. Giáo hội không tự cho mình cạnh tranh với các quyền lực trần thế, nhưng lại tự hiến như “một gia đình giữa mọi gia đình, Giáo hội là thế, cởi mở trở nên chứng tá trong thế giới ngày nay, mở toan cõi lòng đặt đức tin – đức cậy – đức mến vào Thiên Chúa, và những ai mà Người yêu thương bằng tình mến ưu tiên. Một ngôi nhà với nhiều cánh cửa rộng mở. Giáo hội là ngôi nhà ấy, bởi lẽ Giáo hội vốn là người mẹ hiền” [269]. Và noi theo gương Mẹ Ma-ri-a, Mẹ Đức Giê-su, “chúng ta ước muốn trở thành một Giáo hội phục vụ, rời nhà và tiến bước, ra khỏi những nơi thờ phượng, phòng áo lễ, ngõ hầu đồng hành với cuộc sống, duy trì niềm hy vọng, trở nên dấu chỉ hiệp nhất…nhằm kiến tạo cầu nối, giật sập tường luỹ, và gieo trồng hạt giống hòa giải” [270].

Căn tính Ki-tô giáo

  1. Giáo hội trân quí những phương cách mà Thiên Chúa hoạt động nơi các tôn giáo khác, và “không bao giờ phủ nhận những gì là chân thật và thánh thiện nơi các tôn giáo ấy. Giáo Hội rất tôn trọng lối sống và cung cách hành xử, cũng như những huấn giới và giáo thuyết của họ…, nhưng vẫn thường phản chiếu một tia sáng chân lý đang soi tỏ tất cả mọi người” [271]. Tuy nhiên, là Ki-tô hữu, chúng ta ý thức rất rõ rằng “giả như âm nhạc của Tin Mừng ngừng vang lên trong chính hữu thể bản thân, thì chúng ta sẽ đánh mất niềm hoan lạc phát sinh từ lòng cảm thương, tình yêu trìu mến phát sinh từ lòng tín thác, khả năng hòa giải vốn bắt nguồn từ nhận thức này: chúng ta đã được tha thứ và được sai đi. Nếu âm hưởng du dương của Tin Mừng ngừng vang vọng trong gia đình chúng ta, quảng trường công cộng, công xưởng, nơi đời sống chính trị và tài chính, thì chúng ta sẽ chẳng còn nghe thấy những giai điệu vốn thách thức chúng ta bảo vệ phẩm giá của mọi người nam cũng như nữ” [272]. Ai đó uống từ các nguồn nước khác; còn đối với chúng ta, nguồn suối của nhân phẩm và tình huynh đệ chính ở nơi Tin Mừng của Đức Giê-su Ki-tô. Từ đó nảy sinh “quyền tối thượng dành cho mối liên hệ, cho sự gặp gỡ với tính huyền nhiệm linh liêng của tha nhân, cho niềm hiệp thông phổ quát với toàn thể gia đình nhân loại, tựa như một ơn gọi của mọi người, xét theo tư tưởng Ki-tô giáo và sinh hoạt Giáo hội” [273].

278. Được kêu mời bén rễ sâu vào mọi nơi, Giáo hội đã hiện diện trên khắp thế giới hàng nhiều thế kỷ nay, và đây chính là ý nghĩa của hạn từ “công giáo”. Như thế, từ cảm nghiệm ân sủng và tội lỗi của mình, Giáo hội có thể thông hiểu vẻ đẹp của lời mời yêu thương phổ quát. Thật vậy, “mọi điều nhân bản đều là mối quan tâm của chúng ta…bất cứ nơi nào mà hội đồng các quốc gia nhóm họp với nhau để thiết lập quyền lợi và nghĩa vụ của con người, thì chúng ta rất vinh dự được đứng vào hàng ngũ giữa họ” [274]. Đối với nhiều Ki-tô hữu, trong hành trình huynh đệ này cũng đều có Mẹ, người mẹ tên là Ma-ri-a. Khi lãnh nhận thiên chức người mẹ phổ quát này dưới chân thập giá (x. Ga 19, 26), Mẹ không chỉ quan tâm đến Đức Giê-su, mà còn ưu ái “tất cả con cái của Mẹ” nữa (x. Kh 12, 17). Nhờ quyền năng của Chúa Phục sinh, Mẹ muốn khai sinh một thế giới mới, mà nơi đó, tất cả chúng ta là anh chị em, nơi đó luôn có chỗ dành cho hết thảy những ai bị xã hội loại bỏ, nơi đó công lý và hòa bình được rạng rỡ tôn vinh.

279. Tại những quốc gia Ki-tô hữu là thiểu số, chúng ta yêu cầu được bảo đảm quyền tự do, ngay cả khi chính mình cổ vũ quyền tự do ấy cho những ai ngoài Ki-tô giáo đang ở nơi mà họ là thiểu số. Một nhân quyền căn bản không được quên trên chặng đường hướng tới tình huynh đệ và hòa bình, đó là quyền tự do tôn giáo cho các tín đồ của mọi tôn giáo. Tự do này công bố rằng chúng ta có thể “xây dựng tính hòa hợp và sự hiểu biết giữa những nền văn hóa và tôn giáo khác nhau. Bởi vì điều quan trọng mà chúng ta chia san cho nhau rất nhiều, nên nó cũng minh chứng cho thực tại này là có thể tìm ra một phương thế để chung sống thanh bình, quy cũ và yên hàn, chấp nhận sự khác biệt của nhau và hân hoan như con cái của một Chúa, vì chúng ta hết thảy đều là anh chị em” [275].

280. Đồng thời, chúng ta cầu xin Thiên Chúa củng cố tinh thần hiệp nhất trong Giáo hội, tình hiệp nhất được phong phú hơn nhờ những khác biệt mà Thần Khí hoà giải. Vì “tất cả chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể” (1Cr 12, 13), và nơi đây mỗi thành viên đều chung tay đóng góp phần riêng biệt của mình. Thánh Âu-gus-ti-nô đã từng nói, “tai nhìn qua mắt, và mắt nghe qua tai” [276]. Tương tự, tiếp tục làm chứng tá cho cuộc hành trình gặp gỡ giữa các tín phái Ki-tô giáo khác nhau cũng cần kíp chẳng kém. Chúng ta không thể quên lãng ước muốn của Đức Ki-tô “xin cho chúng hết thảy nên một” (x. Ga 17, 21). Nghe lời mời gọi của Người, chúng ta đau xót nhận ra rằng tiến trình toàn cầu hóa vẫn còn thiếu phần đóng góp mang tính ngôn sứ và tâm linh của tình hiệp nhất giữa các Ki-tô hữu. Dù vậy, “ngay cả khi chúng ta đang hành trình tiến về niềm hiệp thông trọn vẹn này chăng nữa, thì chúng ta phải trở nên chứng tá chung quy cho tình yêu Thiên Chúa vốn dành cho mọi người bằng cách cùng nhau phục vụ nhân loại” [277].

TÔN GIÁO VÀ BẠO LỰC

281. Chặng đường hòa bình là điều khả hữu giữa các tôn giáo, và điểm xuất phát của nó phải là cách thức mà Thiên Chúa nhìn ngắm sự vật. “Thiên Chúa không quan sát bằng đôi mắt, nhưng Người nhìn thấu tỏ bằng con tim. Và Chúa yêu thương mọi người như nhau, bất luận tôn giáo nào. Thậm chí lúc họ là những người vô thần, thì tình yêu Người vẫn vậy. Khi ngày cánh chung đến, và ánh sáng đủ để nhìn rõ mọi vật như bản chất thực sự của nó, cũng là lúc chúng ta sẽ nhận thấy mình khá đỗi kinh ngạc” [278].

282. Do đó, “các tín hữu chúng ta cần tìm dịp chuyện trò với nhau, cũng như cùng nhau hành động vì lợi ích chung và động viên khích lệ người nghèo. Điều này chẳng liên quan gì đến việc hạ thấp hoặc che giấu các xác tín sâu thẳm nhất của chúng ta khi gặp gỡ những người khác không cùng chung suy nghĩ với mình…Vì căn tính của chúng ta càng sâu sắc, mạnh mẽ và phong phú, thì chúng ta càng có khả năng khiến người khác giàu có phong phú hơn bằng các đóng góp thích đáng của bản thân” [279]. Chúng ta những tín hữu được thử thách trở về với nguồn cội, hầu tập trung vào điều thiết yếu, đó là: thờ phượng Thiên Chúa và yêu mến người lân cận; nếu không, một số giáo huấn của chúng ta, khi bị tách biệt khỏi bối cảnh, dẫn đến kết cuộc vỗ béo các hình thái khinh miệt, hận thù, bài ngoại hoặc cự tuyệt người khác. Thật sự bạo lực chẳng có cơ sở nào trong những xác tín tôn giáo nền tảng của chúng ta, hoạ chăng, nó chỉ vất vưởng trong tình trạng méo mó mà thôi.

283. Thờ phượng Thiên Chúa khiêm cung chân thành “không mang lại hoa trái kỳ thị, hận thù và bạo lực, mà là hoa trái tôn trọng tính thánh thiêng của sự sống, tôn trọng phẩm giá và tự do của tha nhân, và yêu thương cam kết dấn thân vì phúc lợi cho mọi người” [280]. Quả thật, “ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4, 8). Vì vậy, “chủ nghĩa khủng bố là tồi tệ và nó đe dọa an ninh của người dân – dù họ ở phương Đông hay phương Tây, phương Bắc hay phương Nam – rồi còn gieo rắc nỗi sợ hãi, kinh hoàng và bi quan yếm thế nữa; nhưng điều này chẳng phải do tôn giáo, cho dẫu những kẻ khủng bố vốn biến nó thành công cụ. Đúng hơn, do sự tích tụ các lối biện giải sai lạc về bản văn tôn giáo, cũng như những chính sách liên quan đến nạn đói nghèo, bất công, áp bức và tự cao. Đây chính là lý do tại sao cần phải ngưng hỗ trợ các phong trào khủng bố, mà chúng đang được thúc đẩy nhờ những khoản tài chính, chi viện vũ khí và chiến lược, cũng như nhờ mưu đồ toan tính biện minh cho các phong trào này, thậm chí dùng đến cả các phương tiện truyền thông. Tất cả những điều này phải được coi là tội ác quốc tế vì chúng đe dọa an ninh và hòa bình thế giới. Chủ nghĩa khủng bố như thế phải bị lên án dưới mọi hình thức biểu đạt của nó” [281]. Các xác tín tôn giáo về ý nghĩa thánh thiêng của sự sống con người cho phép chúng ta “nhận ra những giá trị nền tảng của nhân tính chung nơi ta, các giá trị mà nhân danh chúng, ta có thể và phải hợp tác, kiến thiết, đối thoại, tha thứ cùng phát triển; điều này sẽ giúp vô số tiếng nói khác nhau hợp nhất, nhằm tạo ra một giai điệu cao quý và đẹp đẽ siêu phàm, thay vì những tiếng thét hận thù cuồng tín” [282].

284. Đôi lúc bạo lực duy cực đoan được xổ lồng trong một số đoàn thể, thuộc bất cứ tôn giáo nào, bởi tính hấp tấp của giới lãnh đạo họ. Tuy nhiên, “giới răn an hoà được khắc sâu trong các truyền thống tôn giáo mà chúng ta đại diện…Với vai trò lãnh đạo tôn giáo, chúng ta được mời gọi trở nên ‘những người đối thoại’ chân chính, trên tinh thần hợp tác kiến tạo hòa bình không phải với tư cách của người trung gian, mà là những nhà hòa giải đích thật. Người trung gian tìm cách giảm giá cho mọi người, nhưng cuối cùng vẫn để thu lợi gì đó cho chính họ. Trái lại, người hòa giải không giữ lại cho mình, mà đúng hơn, quảng đại dấn thân đến cùng kiệt, và chỉ biết điều duy nhất thu lợi được là an bình. Mỗi người chúng ta được mời gọi trở thành nghệ nhân của hòa bình, bằng cách hợp nhất chứ không chia rẽ, bằng cách dập tắt hận thù chứ không duy trì nó, bằng cách mở ra những nẻo đường đối thoại chứ chẳng phải xây đắp tường luỹ mới” [283].

Một lời kêu gọi

  1. Trong cuộc gặp gỡ đầy tình huynh đệ với Đại Imam Ahmad Al-Tayyeb mà tôi vui mừng nhớ lại, “chúng tôi đã kiên quyết [tuyên bố] rằng các tôn giáo không bao giờ được kích động chiến tranh, thái độ thù hận, thói hiềm tị thù địch và chủ nghĩa cực đoan, cũng như không xúi giục bạo lực hoặc gây ra đổ máu. Những thực tại bi thảm này là hậu quả của tình trạng lệch lạc xa rời các giáo huấn tôn giáo. Chúng là kết quả của sự thao túng chính trị đối với tôn giáo và những diễn giải của các nhóm tôn giáo, mà họ đã từng lợi dụng sức mạnh của tình cảm tôn giáo nơi trái tim những người đàn ông và phụ nữ trong suốt dòng lịch sử…Thiên Chúa, Đấng Toàn năng, chẳng cần ai bênh vực và không muốn danh thánh Người bị lợi dụng nhằm khủng bố con người” [284]. Vì lý do này, tôi xin nhắc lại ở đây lời kêu gọi cho hòa bình, công lý và tình huynh đệ mà chúng tôi đã cùng nhau cam kết:

“Nhân danh Thiên Chúa, Ðấng tạo dựng mọi người bình đẳng về quyền lợi, nghĩa vụ và phẩm giá, rồi mời gọi họ chung sống với nhau như anh chị em, hầu sinh sôi nảy nở khắp mặt đất và thông truyền cho hết mọi người biết đến các giá trị tốt lành, bác ái và hòa bình;

“Nhân danh mạng sống con người vô tội mà Thiên Chúa vốn nghiêm cấm sát hại, quả quyết rằng ai giết chết một người thì giống như giết hại cả nhân loại, ai cứu sống một người tựa như cứu sống cả nhân loại;

“Nhân danh người nghèo, người cơ cực, người bị đẩy ra ngoài xã hội và thiếu thốn nhất, họ là những người mà Thiên Chúa đã truyền cho chúng ta phải giúp đỡ như một bổn phận bắt buộc đối với hết thảy mọi người, đặc biệt những ai phú quý giàu sang và có phương tiện;

“Nhân danh trẻ mồ côi, người góa phụ, tị nạn và những ai bị đày ải rời xa gia đình và quê hương đất nước họ; nhân danh tất cả các nạn nhân của chiến tranh, bách hại và bất công; nhân danh kẻ yếu thế, những ai sống trong nỗi sợ hãi, các tù nhân chiến tranh và người bị tra tấn ở bất cứ đâu trên thế giới mà không chút phân biệt nào;

“Nhân danh những dân tộc đã bị mất an ninh, hòa bình và khả thể chung sống với nhau, trở thành nạn nhân của sự hủy diệt, thiên tai và chiến tranh;

“Nhân danh tình huynh đệ nhân bản, vốn ôm trọn mọi hữu thể con người, hợp nhất và làm cho họ bình đẳng;

“Nhân danh tình huynh đệ này đã từng bị xé nát bởi các chính sách cực đoan và chia rẽ, do nhiều hệ thống lợi nhuận lỏng lẻo hoặc các khuynh hướng ý thức hệ hận thù, chuyên thao túng hoạt động cũng như tương lai của những người đàn ông và phụ nữ;

“Nhân danh tự do mà Thiên Chúa tặng ban cho mọi hữu thể nhân vị, nhờ ơn phúc này, họ được dựng nên thành người tự do và được đặt để riêng biệt;

“Nhân danh công lý và lòng thương xót, vốn là các nền tảng của sự hưng thịnh và đá tảng góc tường của đức tin;

“Nhân danh tất cả mọi người thiện chí đang hiện diện khắp nơi trên thế giới;

“Nhân danh Thiên Chúa và mọi điều đã được đề cập trên đây, [chúng tôi] tuyên bố chấp nhận nền văn hóa đối thoại như nẻo đường chân chính; tinh thần hợp tác đôi bên như quy tắc ứng xử; sự hiểu biết lẫn nhau như phương pháp và tiêu chuẩn” [285].

                                            *  *  *

  1. Trong những trang suy tư về tình huynh đệ phổ quát này, tôi cảm thấy được Thánh Phan-xi-cô Át-si-si truyền cảm hứng một cách đặc biệt, cũng như vô số nhân vật ngoài Công giáo, họ là anh chị em chúng ta như: Mar-tin Lu-ther King, Đes-mond Tu-tu, Ma-hát-ma Gan-dhi và nhiều người khác. Tuy nhiên, tôi xin khép lại suy tư này qua việc đề cập đến một nhân vật của đức tin thâm sâu, người đã nhờ vào cảm nghiệm mãnh liệt của mình về Thiên Chúa, mà thực hiện một cuộc hành trình biến đổi, hầu cảm nhận bản thân như thể là anh em của hết thảy mọi người. Và tôi đang muốn nói tới Chân phước Sác-đờ-Fucô (Charles de Foucauld).287. Chân phước Sác-đờ-Fucô đã điều hướng lý tưởng phó thác hoàn toàn cho Thiên Chúa, ngõ hầu trở nên đồng nhất với người nghèo khổ, người bị bỏ rơi trong cùng tận sa mạc Phi Châu. Trong khung cảnh đó, ngài bày tỏ mong muốn được cảm nhận mình như thể người anh em của mọi người [286], và đã xin một người bạn “cầu nguyện cùng Thiên Chúa cho tôi thực sự là anh em của tất cả mọi người” [287]. Sau hết, ngài đã ước ao trở thành “người anh em phổ quát” [288]. Tuy nhiên, nói cho cùng, chỉ bằng cách đồng nhất với những người bé nhỏ nhất, ngài mới trở thành người anh em của mọi người. Xin Thiên Chúa ban nguồn cảm hứng cho ước mơ ấy trong mỗi người chúng ta. Amen.

Lời nguyện với Đấng Tạo Hoá

Lạy Chúa, Cha chung của gia đình nhân loại chúng con,
Cha đã tạo dựng mọi người bình đẳng về phẩm giá:
tuôn đổ đầy tràn vào tâm hồn chúng con một tinh thần huynh đệ
và khơi nguồn cảm hứng nơi chúng con một ước mơ gặp gỡ canh tân,
đối thoại, công lý và hòa bình.
Xin Cha thúc đẩy chúng con ra đi kiến tạo xã hội lành mạnh
và một thế giới xứng hợp hơn,
một thế giới chẳng còn đói kém, nghèo nàn, bạo lực và chiến tranh.

Nguyện xin tâm hồn chúng con được mở rộng với tất cả các dân tộc

và mọi quốc gia trên mặt đất này.
Xin cho chúng con nhận ra lòng nhân hậu và vẻ đẹp mỹ miều

mà Cha đã gieo trồng nơi mỗi người chúng con,
và nhờ đó tạo nên mối dây hợp nhất, cùng chung các dự án,
và những ước mơ. Amen.

Kinh cầu Đại kết Ki-tô giáo

Lạy Thiên Chúa, Ba Ngôi tình yêu,
từ nguồn hiệp thông sâu thẳm của sự sống thần tính Ngài,
xin tuôn đổ trên chúng con dòng suối bác ái đệ huynh.
Xin ban cho chúng con lòng mến, mà nó đã được diễn tả

qua các hành động của Chúa Giê-su, nơi gia đình Na-za-rét,
và trong cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi.

Xin ban ơn cho chúng con là những Ki-tô hữu biết sống theo Tin Mừng,
khám phá ra Chúa Ki-tô nơi mỗi người,
nhận ra Ngài bị đóng đinh
nơi biết bao nỗi thống khổ của những người bị bỏ rơi
và bị lãng quên trong thế giới chúng con,
nhưng Ngài đã phục sinh nơi mỗi người anh chị em,
mà họ đang ra sức thực hiện một khởi đầu mới.

Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến, soi sáng cho chúng con nhìn thấy vẻ đẹp của Ngài, vốn được tỏ rạng trong mọi dân tộc trên mặt đất này,
ngõ hầu chúng con có thể tái khám phá ra rằng:

tất cả mọi người đều quan trọng và cần thiết,
sỡ hữu những diện mạo khác nhau của một nhân loại,

mà vốn được Thiên Chúa hết mực yêu thương. Amen.

Ban hành tại Át-si-si, ngay ngôi mộ của Thánh Phan-xi-cô, vào ngày 3 tháng 10, Lễ vọng Thánh nhân, năm 2020, năm thứ tám triều Giáo hoàng của tôi.

Phan-xi-cô

 

Chuyển ngữ: Lm. Xuân Hy Vọng

CHÚ THÍCH:

[259] Hội đồng Giám mục Ấn độ, Giáo hội tại Ấn Độ Đối ứng với Những Thách thức Hiện nay (9/3/2016).

[260] Bài giảng lễ tại Đền Thánh Mát-ta (17/5/2020).

[261] Giáo hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI, Thông điệp  Caritas in Veritate (29/6/2009), 19: AAS 101 (2009), 655.

[262] Thánh Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II, Thông điệp  Centesimus Annus (1/5/1991), 44: AAS 83 (1991), 849.

[263] Diễn văn dành cho Các nhà Lãnh đạo Tôn giáo và Tín phái Ki-tô giáo khác, Tirana, Al-ba-ni-a (21/9/2014): Insegnamenti (Giáo huấn) II, 2 (2014), 277.

[264] Văn kiện Tình Huynh đệ Nhân bản vì Hòa bình Thế giới và Chung sống, Abu Dhabi (4/2/2019): Tờ Quan sát viên Rô-ma, 4-5/2/2019, tr. 6.

[265] Tông huấn Evangelii Gaudium (24/11/2013), 256: AAS 105 (2013), 1123.

[266] Giáo hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI, Thông điệp  Deus Caritas Est (25/12/2005), 28: AAS 98 (2006), 240.

[267] “Con người là một sinh vật mang tính chính trị”, ARISTOTLE, Politics (Chính trị), 1253a 1-3.

[268] Giáo hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI, Thông điệp  Caritas in Veritate (29/6/2009), 11: AAS 101 (2009), 648.

[269] Diễn văn dành cho Cộng đoàn Công Giáo, Rakovski, Bul-ga-ri-a (6/5/2019): Tờ Quan sát viên Rô-ma, 8/5/2019, tr. 9.

[270] Bài giảng, San-tia-gô đờ Cu-ba [Santiago de Cuba] (22/9/2015): AAS 107 (2015), 1005.

[271] Công Đồng Va-ti-can II, Tuyên ngôn về Mối Liên hệ của Giáo Hội với các Tôn giáo ngoài Ki-tô giáo, Nostra Aetate, 2.

[272] Buổi Cầu nguyện Đại kết, Riga, Lát-vi-a (24/9/2018): Tờ Quan sát viên Rô-ma, 24-25/9/2018, tr. 8.

[273] Lectio Divina, Học viện Giáo hoàng La-tê-ra-nô, Rô-ma (26/3/2019): Tờ Quan sát viên Rô-ma, 27/3/2019, tr. 10.

[274] Thánh Giáo hoàng Phao-lô VI, Thông điệp Ecclesiam Suam (6/8/1964): AAS 56 (1964), 650.

[275] Diễn văn dành cho Nhà Cầm quyền Dân sự, Bêth-lê-hem, Pa-les-tin (25/5/2014): Insegnamenti (Giáo huấn) II, 1 (2014), 597.

[276] Enarrationes in Psalmos (Lối trình bày trong Thánh vịnh), 130, 6: PL 37, 1707.

[277] Tuyên bố chung của Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô và Thượng phụ Đại kết, Giê-ru-sa-lem (25/5/2014), 5: Tờ Quan sát viên Rô-ma, 26-27/5/2014, tr. 6.

[278] Dựa trên bộ phim Pope Francis: A Man of His Word [tạm dịch: Giáo Hoàng Phan-xi-cô: Người giữ Lời], của tác giả Wim Wenders (2018).

[279] Tông huấn Hậu Thượng Hội đồng Querida Amazonia (2/2/2020), 106.

[280] Bài giảng, Cô-lom-bô, Sri Lanka (14/1/2015): AAS 107 (2015), 139.

[281] Văn kiện Tình Huynh đệ Nhân bản vì Hòa bình Thế giới và Chung sống, Abu Dhabi (4/2/2019): Tờ Quan sát viên Rô-ma, 4-5/2/2019, tr. 7.

[282] Diễn văn dành cho Nhà Cầm quyền Dân sự, Sarajevo, Bosnia-Herzegovina (6/6/2015): Tờ Quan sát viên Rô-ma, 7/6/2015, tr. 7.

[283] Diễn văn tại Hội nghị Quốc tế về Hòa bình do Cộng đoàn Sant’Egidio tổ chức (30/9/2013): Insegnamenti (Giáo huấn) I, 1 (2013), 301-302.

[284] Văn kiện Tình Huynh đệ Nhân bản vì Hòa bình Thế giới và Chung sống, Abu Dhabi (4/2/2019): Tờ Quan sát viên Rô-ma, 4-5/2/2019, tr. 6.

[285] Nt.

[286] x. CHARLES DE FOUCAULD (Sác-đờ-Fucô), Méditation sur le Notre Père [tạm dịch: Suy niệm về Kinh Lạy Cha] (23/1/1897).

[287] Letter to Henry de Castries [tạm dịch: Thư gửi Hen-ri đờ Cas-tri] (29/11/1901).

[288] Letter to Madame de Bondy [tạm dịch: Thư gửi Quý bà Gia tộc Bôn-đi] (7/1/1902). Thánh Giáo hoàng Phao-lô VI dùng những lời lẻ này tán dương tinh thần dấn thân của thánh Sác-đờ-Fucô: Thông điệp  Populorum Progressio (26/3/1967): AAS 59 (1967), 263.

Tông thư Patris Corde của Đức Thánh Cha Phanxico

Tông thư PATRIS CORDE (Bằng Trái Tim Người Cha)

Vũ Văn An 09/Dec/2020

Về Kỷ niệm 150 năm việc công bố Thánh Giuse là bổn mạng Giáo Hội Hoàn vũ

Để kỷ niệm năm thứ 150 ngày Đức Chân Phúc Piô IX tôn vinh Thánh Giuse là Bổn Mạng của Giáo Hội Hoàn Vũ, cùng với việc Tòa Thánh công bố Năm Thánh Giuse bắt đầu từ ngày 8 tháng 12 năm 2020 tới ngày 8 tháng 12 năm 2021, Đức Thánh Cha Phanxicô đã ban hành Tông Thư Patris Corde (Bằng Trái Tim Người Cha) nhân dịp này. Chúng tôi xin chuyển Tông thư qua Việt ngữ:

BẰNG TRÁI TIM CỦA MỘT NGƯỜI CHA: Thánh Giuse đã yêu Chúa Giêsu, Đấng mà cả bốn sách Tin Mừng đều gọi là “con trai của Ông Giuse” [1].

Mátthêu và Luca, hai Thánh sử nói về thánh Giuse, cho chúng ta biết rất ít, nhưng đủ để chúng ta đánh giá ngài là người cha như thế nào và sứ mệnh được Chúa quan phòng giao phó cho ngài ra sao.

Chúng ta biết rằng thánh Giuse là một người thợ mộc tầm thường (x. Mt 13:55), đã hứa hôn với Đức Maria (x. Mt 1:18; Lc 1:27). Ngài là “người công chính” (Mt 1:19), luôn sẵn sàng thi hành thánh ý Thiên Chúa như đã mạc khải cho ngài trong Lề Luật (x. Lc 2:22.27.39) và qua bốn giấc mơ (x. Mt 1:20; 2: 13.19.22). Sau một hành trình dài và mệt mỏi từ Nadarét đến Bêlem, ngài được chứng kiến Đấng Mêsia sinh ra trong chuồng ngựa, vì “không có chỗ cho họ” ở nơi khác (x. Lc 2: 7). Ngài đã chứng kiến việc tôn thờ của các mục đồng (x. Lc 2: 8-20) và các đạo sĩ (x. Mt 2:1-12), những người lần lượt đại diện cho dân tộc Israel và các dân tộc ngoại giáo.

Thánh Giuse đã can đảm trở thành người cha hợp pháp của Chúa Giêsu, Đấng mà ngài đã đặt cho cái tên được sứ thần tiết lộ: “Ông hãy gọi tên Người là Giêsu, vì Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1:21). Như chúng ta biết, đối với các dân tộc cổ xưa, đặt tên cho một người hoặc một sự vật, như A-đam đã làm trong lời tường thuật trong Sách Sáng thế (xem 2: 19-20), là thiết lập một mối liên hệ.

Trong Đền thờ, bốn mươi ngày sau khi Chúa Giêsu sinh ra, Thánh Giuse và Đức Maria đã dâng con mình cho Chúa và ngạc nhiên lắng nghe lời tiên tri của ông Simeon về Chúa Giêsu và Mẹ Người (x. Lc 2,22-35). Để bảo vệ Chúa Giêsu khỏi Hêrôđê, Thánh Giuse đã cư ngụ như một người ngoại bang ở Ai Cập (x. Mt 2,13-18). Sau khi trở về quê hương của mình, ngài sống ẩn dật trong ngôi làng Nadarét nhỏ bé và ít người biết đến ở Galilê, cách xa Bêlem, thị trấn của tổ tiên ngài, cũng như cách Giêrusalem và Đền thờ. Người ta nói về Nadarét, “Không có ngôn sứ nào trỗi dậy từ đấy” (x. Ga 7:52) và quả thật, “Có điều gì tốt lành có thể xuất hiện từ Nadarét đâu?” (x. Ga 1:46). Trong cuộc hành hương lên Giêrusalem, Thánh Giuse và Đức Maria lạc mất Chúa Giêsu mười hai tuổi, các ngài hồi hộp đi tìm và thấy Người trong Đền thờ, đang thảo luận với các tiến sĩ Luật (x. Lc 2,41 -50).

Sau Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, không vị thánh nào được nhắc đến thường xuyên trong huấn quyền Giáo hoàng hơn Thánh Giuse, người phối ngẫu của Đức Mẹ. Những Vị Tiền Nhiệm của tôi đã suy gẫm về thông điệp chứa đựng trong tín liệu hạn chế mà các sách Tin Mừng đã truyền lại để đánh giá đầy đủ hơn vai trò trung tâm của ngài trong lịch sử cứu độ. Chân phúc Piô IX đã tuyên bố ngài là “Bổn Mạng của Giáo Hội Công Giáo” [2], Đức Piô XII tuyên xưng ngài là “Bổn Mạng những người lao động” [3] và Thánh Gioan Phaolô II tôn ngài là “Đấng bảo vệ Chúa Cứu thế” [4]. Thánh Giuse được mọi người cầu khấn như “đấng bảo trợ cái chết hạnh phúc” [5].

Nay, một trăm năm mươi năm sau khi được Chân phúc Piô IX tuyên bố là Bổn Mạng Giáo Hội Công Giáo (ngày 8 tháng 12 năm 1870), tôi muốn chia sẻ một số suy gẫm cá nhân về nhân vật phi thường này, rất gần với kinh nghiệm nhân bản của chúng ta. Vì, như Chúa Giêsu đã nói, “lòng có đầy, miệng mới nói ra” (Mt 12,34). Mong muốn của tôi gia tăng trong những tháng đại dịch này, khi, giữa cuộc khủng hoảng, chúng ta cảm nghiệm việc làm thế nào “cuộc sống của chúng ta được dệt vào với nhau và được duy trì bởi những người bình thường, những người thường bị ngó lơ. Những người không xuất hiện trên các tiêu đề báo chí và tạp chí, hoặc trên chương trình truyền hình mới nhất, nhưng trong những ngày này chắc chắn họ đang lên khuôn các sự kiện quyết định của lịch sử chúng ta. Các bác sĩ, y tá, thủ kho và nhân viên siêu thị, nhân viên vệ sinh, những người chăm sóc, công nhân vận chuyển, những người đàn ông và đàn bà đang làm việc để cung cấp các dịch vụ thiết yếu và an toàn công cộng, các thiện nguyện viên, các linh mục, nam nữ tu sĩ, và rất nhiều người khác. Họ hiểu rằng không ai được cứu một mình… Biết bao nhiêu người hằng ngày thực thi kiên nhẫn và cung hiến hy vọng, quan tâm loan truyền không phải hoảng sợ mà là trách nhiệm chung. Biết bao nhiêu người cha, người mẹ, ông bà và thầy cô đang chỉ bảo con cái chúng ta, bằng những cách nhỏ nhặt hàng ngày, cách chấp nhận và đối phó với khủng hoảng bằng cách điều chỉnh thói quen, nhìn về phía trước và khuyến khích thực hành việc cầu nguyện. Biết bao nhiêu người đang cầu nguyện, hy sinh và cầu thay cho thiện ích của mọi người” [6]. Mỗi người chúng ta đều có thể khám phá nơi Thánh Giuse – người không ai lưu ý, một sự hiện diện hàng ngày, kín đáo và giấu ẩn – một người cầu thay, hỗ trợ và hướng dẫn khi gặp khó khăn. Thánh Giuse nhắc nhở chúng ta rằng những người tỏ ra giấu ẩn hoặc sống trong bóng tối có thể đóng một vai trò vô sánh trong lịch sử cứu độ. Với họ, ta phải có lời công nhận và biết ơn.

  1. Người cha kính yêu

Sự vĩ đại của Thánh Giuse là ngài là người phối ngẫu của Đức Maria và là cha của Chúa Giêsu. Qua cách này, như lời Thánh Gioan Kim Khẩu nói, ngài tự đặt mình “phục vụ toàn bộ kế hoạch cứu rỗi” [7].

Thánh Phaolô VI đã nhấn mạnh rằng Thánh Giuse đã phát biểu một cách cụ thể vai trò làm cha của ngài “bằng cách biến cuộc sống của ngài trở thành một việc hy sinh phục vụ mầu nhiệm nhập thể và mục đích cứu chuộc của nó. Ngài sử dụng thẩm quyền hợp pháp của mình đối với Thánh Gia để hoàn toàn cống hiến hết mình cho các vị trong cuộc sống và công việc của ngài. Ngài biến ơn gọi làm người của ngài đối với tình yêu gia đình thành một tiến lễ siêu phàm chính bản thân ngài, trái tim và mọi khả năng của ngài, một tình yêu nhằm phục vụ Đấng Mêxia đang lớn lên trong nhà của ngài” [8].

Nhờ vai trò của ngài trong lịch sử cứu độ, Thánh Giuse luôn được giáo dân Kitô giáo tôn kính như một người cha. Điều này được biểu lộ qua vô số nhà thờ dâng kính ngài khắp thế giới, nhiều viện tu, hội dòng và các nhóm giáo hội lấy cảm hứng từ linh đạo của ngài và mang tên ngài, và nhiều phát biểu truyền thống về lòng mộ đạo để tôn vinh ngài. Vô số những người thánh thiện nam nữ đã nhiệt thành tôn kính ngài. Trong số đó có Thánh Têrêsa thành Avila, người đã chọn ngài làm đấng bênh vực và cầu bầu của mình, đã thường xuyên chạy đến với ngài và nhận được bất cứ ơn thánh nào mà thánh nữ xin nơi ngài. Được khích lệ bởi kinh nghiệm của chính mình, Thánh Têrêsa thuyết phục người khác nuôi dưỡng lòng sùng kính đối với Thánh Giuse [9].

Mọi sách cầu nguyện đều có những lời cầu nguyện với Thánh Giuse. Những lời cầu nguyện đặc biệt được dâng cho ngài vào mỗi thứ Tư và đặc biệt là trong tháng Ba, theo truyền thống được dành kính ngài [10].

Lòng tín thác bình dân vào Thánh Giuse được nhìn thấy trong thành ngữ “Hãy đến với Giuse”, gợi ta nhớ đến nạn đói ở Ai Cập, khi người Ai Cập cầu xin Pharaô cho họ bánh mì. Ông trả lời: “Hãy đến với Giuse; hãy làm những gì ông ấy nói với bạn” (St 41:55). Pharaô ám chỉ Giuse, con trai của Giacốp, người bị bán làm nô lệ do lòng ghen tị của anh em mình (xem St 37: 11-28) và là người – theo lời tường thuật trong Kinh thánh – sau đó trở thành phó vương của Ai Cập (xem St. 41: 41-44).

Là dòng dõi vua Đavít (x. Mt 1,16-20), mà từ gốc rễ ấy, Chúa Giêsu đã nẩy sinh theo lời hứa của tiên tri Nathan ngỏ với Đavít (x. 2 Sm 7), và là chồng của Đức Maria thành Nadarét, Thánh Giuse đứng ở ngã tư giữa Cựu ước và Tân ước.

  1. Một người cha dịu dàng và yêu thương

Thánh Giuse thấy Chúa Giêsu lớn lên “ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta” (Lc 2:52). Chúa đã làm với Israel thế nào, Thánh Giuse cũng đã làm với Chúa Giêsu như vậy: “Ngài dạy Người bước đi, cầm tay Người; ngài đối với Người như một người cha nâng đứa con thơ lên má, cúi xuống cho con ăn” (x. Hs 11: 3-4).

Nơi Thánh Giuse, Chúa Giêsu thấy tình yêu thương dịu dàng của Thiên Chúa: “Như người cha thương con cái, Chúa xót thương những ai kính sợ Người” (Tv 103: 13).

Trong hội đường, lúc cầu nguyện bằng Thánh vịnh, chắc chắn Thánh Giuse đã nghe đi nghe lại nhiều lần rằng Thiên Chúa của Israel là Thiên Chúa của tình yêu thương dịu dàng [11], là Đấng tốt với mọi người, Đấng “mà lòng cảm thương tỏ cùng muôn loài Chúa đã dựng nên” (Tv 145: 9).

Lịch sử cứu rỗi được thực hiện “trong hy vọng chống lại hy vọng” (Rm 4:18), qua các yếu đuối của chúng ta. Thông thường, chúng ta nghĩ rằng Thiên Chúa chỉ làm việc qua những phần tốt hơn của chúng ta, nhưng hầu hết các kế hoạch của Người đều được thể hiện, bất chấp sự yếu đuối của chúng ta. Vì vậy, Thánh Phaolô đã có thể nói: “để tôi khỏi tự cao tự đại, thân xác tôi như đã bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Xatan được sai đến vả mặt tôi, để tôi khỏi tự cao tự đại. Đã ba lần tôi xin Chúa cho thoát khỏi nỗi khổ này. Nhưng Người quả quyết với tôi: ‘Ơn của Thầy đã đủ cho con, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối’”(2Cr 12: 7-9).

Vì đây là một phần của toàn bộ nhiệm cục cứu rỗi, chúng ta phải học cách nhìn vào những điểm yếu của mình với lòng thương xót dịu dàng [12].

Kẻ Ác khiến chúng ta thấy và lên án sự yếu đuối của chúng ta, trong khi Chúa Thánh Thần đem nó tới ánh sáng bằng tình yêu dịu dàng. Sự dịu dàng là cách tốt nhất để đung tới sự yếu đuối bên trong chúng ta. Chỉ tay và phán xét người khác thường là dấu hiệu của việc không có khả năng chấp nhận các điểm yếu của chúng ta, sự yếu đuối của chúng ta. Chỉ có tình yêu dịu dàng mới cứu chúng ta khỏi cạm bẫy của kẻ tố cáo (x. Kh 12:10). Đó là lý do tại sao việc gặp được lòng thương xót của Thiên Chúa, đặc biệt trong Bí tích Hòa giải, nơi chúng ta cảm nghiệm được sự thật và sự dịu dàng của Người là điều hết sức quan trọng. Nghịch lý thay, Kẻ ác cũng có thể nói sự thật với chúng ta, nhưng hắn làm vậy chỉ để lên án chúng ta. Chúng ta biết rằng sự thật của Thiên Chúa không lên án, nhưng thay vào đó chào đón, bảo bọc, nâng đỡ và tha thứ cho chúng ta. Sự thật ấy luôn tự hiện diện cho chúng ta như người cha nhân hậu trong dụ ngôn của Chúa Giêsu (x. Lc 15:11-32). Nó đến để gặp gỡ chúng ta, phục hồi phẩm giá của chúng ta, đặt chúng ta đứng trở lại trên đôi chân mình và vui mừng vì chúng ta, vì như người cha nói: “Con trai ta đã chết và nay sống lại; nó đã mất và nay được tìm thấy ”(câu 24).

Ngay cả qua nỗi sợ hãi của Thánh Giuse, ý muốn của Thiên Chúa, lịch sử và kế hoạch của Người vẫn hoạt động. Do đó, Thánh Giuse dạy chúng ta rằng đức tin nơi Thiên Chúa hệ ở việc tin rằng Người có thể hoạt động qua cả nỗi sợ hãi của chúng ta, sự yếu ớt và các yếu đuối của chúng ta. Ngài cũng dạy chúng ta rằng giữa những sóng bão của cuộc sống, chúng ta đừng bao giờ sợ hãi để Chúa hướng dẫn đường đi của chúng ta. Đôi khi, chúng ta muốn hoàn toàn kiểm soát, nhưng Thiên Chúa luôn nhìn thấy bức tranh lớn hơn.

  1. Một người cha vâng lời

Như từng làm với Đức Maria, Thiên Chúa mạc khải kế hoạch cứu rỗi của Người cho Thánh Giuse. Người làm như vậy bằng cách sử dụng những giấc mơ, điều mà trong Kinh thánh và trong tất cả các dân tộc cổ xưa, vốn được coi như một cách để Người làm cho ý chí của Người được biết đến [13].

Thánh Giuse vô cùng bối rối trước việc mang thai bí ẩn của Đức Maria. Ngài không muốn “tố cáo bà chịu sự ô nhục của công chúng”, [14] nên ngài quyết định “bỏ bà một cách lặng lẽ” (Mt 1:19).

Trong giấc mơ đầu tiên, một thiên thần giúp ngài giải quyết tình thế lưỡng nan nghiêm trọng của ngài: “đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1:20-21). Thánh Giuse đáp lại ngay lập tức: “tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà” (Mt 1:24). Sự vâng lời giúp ngài có thể vượt qua khó khăn của mình và không làm nhục Đức Maria.

Trong giấc mơ thứ hai, thiên thần nói với Thánh Giuse: “dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập, và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hêrôđê sắp tìm giết Hài Nhi đấy”(Mt 2:13). Thánh Giuse đã không ngần ngại vâng lời, bất kể khó khăn gian khổ vì thế: “trỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập. Ông ở đó cho đến khi vua Hêrôđê băng hà” (Mt 2:14-15).

Tại Ai Cập, Thánh Giuse đã kiên nhẫn chờ đợi thông báo của thiên thần rằng ngài có thể trở về quê an toàn. Trong giấc mơ thứ ba, thiên thần nói với ngài rằng những kẻ tìm cách giết con trẻ đã chết và ra lệnh cho ngài trỗi dậy, đem con trẻ và mẹ Người trở về đất Israel (x. Mt 2:19-20). Lại một lần nữa, Thánh Giuse đã nhanh chóng vâng lời. “Ngài trỗi dậy đưa Hài Nhi và mẹ Người về đất Israel” (Mt 2:21).

Trên hành trình trở về, “Nhưng khi nghe biết Áckhêlao đã kế vị vua cha là Hêrôđê, cai trị miền Giuđê, nên ông sợ không dám về đó. Rồi sau khi được báo mộng, (lần này là lần thứ tư), ông lui về miền Galilê, và ở đó, ông đã làm nhà tại một thành kia gọi là Nadarét” (Mt 2: 22-23).

Về phần mình, thánh sử Luca cho chúng ta biết rằng thánh Giuse đã trải qua cuộc hành trình dài và khó khăn từ Nadarét đến Bêlem để được đăng ký tại thị trấn gốc của gia đình mình trong cuộc điều tra dân số của Hoàng đế Xêda Augustô. Ở đó, Chúa Giêsu đã sinh ra (x. Lc 2: 7) và sự ra đời của Người, giống như mọi đứa trẻ khác, đã được ghi vào sổ đăng ký của Đế quốc. Thánh Luca đặc biệt quan tâm khi nói với chúng ta rằng cha mẹ của Chúa Giêsu đã tuân giữ tất cả các quy định của Luật pháp: các nghi thức cắt bì của Chúa Giêsu, thanh tẩy cho Đức Maria sau khi sinh con, dâng con đầu lòng cho Thiên Chúa (xem 2: 21-24) [15].

Trong mọi tình huống, Thánh Giuse tuyên bố “fiat” của riêng ngài, giống như tình huống của Đức Maria lúc Truyền tin và Chúa Giêsu trong Vườn Diệtsimani.

Trong vai trò chủ gia đình, thánh Giuse đã dạy Chúa Giêsu phải vâng lời cha mẹ (x. Lc 2:51), theo giới răn của Thiên Chúa (x. Xh 20:12).

Trong những năm ẩn dật tại Nadarét, Chúa Giêsu đã học ở trường thánh Giuse để làm theo ý muốn của Chúa Cha. Ý muốn đó là lương thực hàng ngày của Người (x. Ga 4:34). Ngay cả vào thời điểm khó khăn nhất của cuộc đời, tại Diệtsimani, Chúa Giêsu vẫn chọn làm theo ý muốn của Đức Chúa Cha hơn là ý muốn của Người [16], trở nên “vâng lời cho đến chết, thậm chí chết trên thập giá” (Pl 2: 8). Do đó, tác giả của Thư gửi người Do Thái kết luận rằng Chúa Giêsu “đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (5: 8).

Tất cả những điều này cho thấy rõ “Thánh Giuse đã được Thiên Chúa kêu gọi để phục vụ trực tiếp con người và sứ mệnh của Chúa Giêsu qua việc thực thi thiên chức làm cha của ngài” và bằng cách này, “vào lúc viên mãn của thời gian, ngài đã cộng tác vào mầu nhiệm cứu độ vĩ đại và thực sự là một thừa tác viên của ơn cứu rỗi” [17].

  1. Một người cha biết chấp nhận

Thánh Giuse đã chấp nhận Đức Maria một cách vô điều kiện. Ngài tin những lời thiên thần nói. “Tấm lòng cao thượng của Thánh Giuse lớn lao đến nỗi những gì ngài học được từ lề luật, ngài đều làm chúng phụ thuộc vào đức ái. Ngày nay, trong thế giới của chúng ta, nơi bạo lực tâm lý, lời nói và thể xác đối với phụ nữ quá rõ ràng, Thánh Giuse xuất hiện như một hình tượng của một người đàn ông đáng kính và mẫn cảm. Mặc dù ngài không hiểu bức tranh lớn hơn, nhưng ngài quyết định bảo vệ danh tiếng, phẩm giá và cuộc sống của Đức Maria. Trong lúc do dự không biết nên hành động như thế nào cho tốt nhất, Thiên Chúa đã giúp ngài bằng cách soi sáng sự phán đoán của ngài” [18].

Thường trong cuộc sống, những điều xảy ra mà chúng ta không hiểu ý nghĩa của chúng. Phản ứng đầu tiên của chúng ta thường là thất vọng và nổi loạn. Thánh Giuse gạt bỏ những ý tưởng của riêng mình để chấp nhận diễn tiến của các biến cố và dù chúng xem ra bí ẩn bao nhiêu, nắm lấy chúng, chịu trách nhiệm về chúng và biến chúng thành một phần lịch sử của chính ngài. Nếu chúng ta không hòa hợp với lịch sử của chính mình, chúng ta sẽ không thể tiến thêm được một bước, vì chúng ta luôn là con tin cho những kỳ vọng và những thất vọng tiếp theo.

Con đường thiêng liêng mà Thánh Giuse vạch ra cho chúng ta không phải là con đường giải thích, nhưng chấp nhận. Chỉ nhờ kết quả của sự chấp nhận này, sự hòa giải này, chúng ta mới có thể bắt đầu thoáng thấy một lịch sử rộng lớn hơn, một ý nghĩa sâu sắc hơn. Chúng ta gần như có thể nghe thấy vọng lại câu trả lời đầy xúc động của Gióp nói với vợ, người đã thúc giục ông chống lại điều ác ông đang chịu đựng: ” Chúng ta đón nhận điều lành từ Thiên Chúa, còn điều dữ, lại không biết đón nhận sao?” (Gióp 2:10).

Chắc chắn thánh Giuse không cam chịu một cách thụ động, nhưng chịu đựng một cách can đảm và vững vàng chủ động. Trong cuộc sống của chúng ta, sự chấp nhận và chào đón có thể là một biểu thức của ơn mạnh mẽ của Chúa Thánh Thần. Chỉ có Chúa mới có thể ban cho chúng ta sức mạnh cần thiết để chấp nhận cuộc sống như hiện tại, với tất cả những mâu thuẫn, ngã lòng và thất vọng của nó.

Sự xuất hiện của Chúa Giêsu ở giữa chúng ta là một hồng ân của Chúa Cha, giúp mỗi người chúng ta có thể hòa giải với toàn bộ lịch sử của chính chúng ta, ngay cả khi chúng ta không hoàn toàn hiểu được nó.

Thiên Chúa nói với Thánh Giuse: “Con vua Đa-vít, đừng sợ!” (Mt 1,20) thế nào, xem ra Người cũng nói với chúng ta như vậy: “Đừng sợ!” Chúng ta cần gạt qua một bên mọi sự tức giận và thất vọng, và đón nhận mọi thứ như hiện tại, ngay cả khi chúng không diễn ra như chúng ta mong muốn. Không phải một cách cam chịu mà một cách đầy hy vọng và can đảm. Bằng cách này, chúng ta cởi mở đón nhận một ý nghĩa sâu sắc hơn. Cuộc sống của chúng ta có thể được tái sinh một cách kỳ diệu nếu chúng ta tìm được can đảm để sống chúng một cách phù hợp với Tin Mừng. Không quan trọng nếu mọi điều dường như đã đi sai hoặc một số điều không thể sửa chữa được. Thiên Chúa có thể làm cho hoa mọc lên từ mặt đất sỏi đá. Ngay cả khi lòng chúng ta kết án chúng ta, “Thiên Chúa cao cả hơn lòng chúng ta, và Người biết mọi sự” (1Ga 3,20).

Ở đây, một lần nữa, chúng ta gặp chủ nghĩa hiện thực Kitô giáo, một chủ nghĩa không bác bỏ bất cứ điều gì hiện hữu. Thực tại, trong tính phức tạp bí ẩn và không thể giảm thiểu của nó, là điều mang ý nghĩa hiện sinh, với tất cả ánh sáng và bóng tối của nó. Do đó, Thánh tông đồ Phaolô đã có thể nói: “Chúng ta biết rằng: Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người” (Rm 8:28). Thánh Augustinô nói thêm, “ngay cả cái được gọi là cái ác (etiam illud quod malum dicitur)” [19]. Theo viễn ảnh lớn hơn này, đức tin mang lại ý nghĩa cho mọi biến cố, bất luận là vui hay buồn.

Chúng ta cũng đừng bao giờ nghĩ rằng tin có nghĩa là tìm được các giải pháp dễ dàng và phấn chấn. Đức tin mà Chúa Kitô dạy chúng ta là những gì chúng ta thấy nơi Thánh Giuse. Ngài không tìm kiếm những con đường tắt, mà đối đầu với thực tế bằng đôi mắt rộng mở và chấp nhận trách nhiệm bản thân đối với nó.

Thái độ của Thánh Giuse khuyến khích chúng ta chấp nhận và chào đón người khác như họ vốn là, không có ngoại lệ, và bày tỏ sự quan tâm đặc biệt đối với những người yếu đuối, vì Thiên Chúa chọn những gì yếu đuối (xem 1 Cr 1:27). Người là “Cha của những trẻ mồ côi và là người che chở các góa phụ” (Tv 68: 6), Đấng truyền cho chúng ta yêu thương người lạ ở giữa chúng ta [20]. Tôi thích nghĩ rằng chính từ Thánh Giuse, mà Chúa Giêsu đã lấy được cảm hứng cho dụ ngôn người con hoang đàng và người cha nhân hậu (x. Lc 15:11-32).

  1. Một người cha can đảm một cách sáng tạo

Nếu giai đoạn đầu tiên của mọi việc chữa lành nội tâm thực sự là chấp nhận lịch sử bản thân của chúng ta và chấp nhận ngay cả những điều trong cuộc sống mà chúng ta không lựa chọn, thì giờ đây, chúng ta phải thêm một yếu tố quan trọng khác: lòng can đảm sáng tạo. Điều này đặc biệt xuất hiện trong cung cách chúng ta đối phó với các khó khăn. Đối đầu với khó khăn, chúng ta có thể hoặc bỏ cuộc và bỏ đi, hoặc bằng cách nào đó dấn thân vào. Đôi khi, các khó khăn mang lại nguồn lực mà chúng ta thậm chí không nghĩ rằng mình có.

Khi đọc các trình thuật tuổi thơ, chúng ta có thể hay thắc mắc tại sao Thiên Chúa không hành động một cách trực tiếp và rõ ràng hơn. Tuy nhiên, Thiên Chúa hành động qua các biến cố và con người. Thánh Giuse là người được Thiên Chúa chọn để hướng dẫn buổi đầu của lịch sử cứu chuộc. Ngài là “phép lạ” thực sự mà nhờ đó Thiên Chúa cứu Hài Nhi và mẹ của Người. Thiên Chúa đã hành động bằng cách tin tưởng vào lòng can đảm sáng tạo của Thánh Giuse. Đến Bêlem và không tìm thấy chỗ ở nào để Mẹ Maria có thể sinh con, thánh Giuse đã dùng một chuồng ngựa và hết sức có thể, biến nó thành mái ấm cho Con Thiên Chúa bước vào trần gian (x. Lc 2: 6-7). Trước nguy cơ sắp xảy ra từ Hêrôđê, kẻ muốn giết Hài Nhi, một lần nữa trong giấc mơ, thánh Giuse đã được cảnh báo phải bảo vệ Hài Nhi, và nửa đêm ngài đã thức dậy chuẩn bị trốn sang Ai Cập (x. Mt 2:13-14 ).

Đọc những câu chuyện này một cách hời hợt thường có thể cho ta cảm tưởng: thế giới nằm trong quyền lực của những kẻ mạnh và quyền năng, nhưng “tin lành” của Tin Mừng hệ ở việc chứng tỏ rằng, đối với mọi cao ngạo và bạo lực của các quyền lực thế gian, Thiên Chúa luôn tìm được cách thực hiện kế hoạch cứu rỗi của Người. Cũng vậy, đời sống của chúng ta đôi khi có vẻ như nằm trong quyền lực của kẻ quyền thế, nhưng Tin Mừng cho chúng ta thấy điều gì mới đáng kể. Thiên Chúa luôn luôn tìm ra cách để cứu chúng ta, miễn là chúng ta chứng tỏ cùng một lòng can đảm sáng tạo như người thợ mộc Nadarét, người đã có thể biến một vấn đề thành một khả thể bằng cách luôn tin tưởng vào ơn quan phòng của Thiên Chúa.

Nếu có lúc dường như Thiên Chúa không giúp đỡ chúng ta, điều này chắc chắn không có nghĩa chúng ta đã bị bỏ rơi, mà đúng hơn, chúng ta đang được tin tưởng trong việc lập kế hoạch, có óc sáng tạo và tự tìm ra các giải pháp.

Thứ can đảm sáng tạo đó đã được chứng tỏ bởi những người bạn của người bại liệt, họ đã hạ anh ta từ trên mái nhà xuống để đưa anh ta đến với Chúa Giêsu (x. Lc 5: 17-26). Các khó khăn đã không cản trở sự mạnh dạn và kiên trì của những người bạn đó. Họ tin chắc rằng Chúa Giêsu có thể chữa lành cho người đàn ông, và “vì có đám đông, họ không tìm được lối đem người ấy vào, nên họ mới lên mái nhà, dỡ ngói ra, thả người ấy cùng với cái giường xuống ngay chính giữa, trước mặt Chúa Giêsu. Thấy họ có lòng tin như vậy, Người bảo : ‘Này anh, anh đã được tha tội rồi’” (câu 19-20). Chúa Giêsu nhìn nhận đức tin sáng tạo qua đó họ đã tìm cách đưa người bạn đau yếu đến với Người.

Tin Mừng không cho chúng ta biết Đức Maria, Thánh Giuse và Hài Nhi ở lại Ai Cập bao lâu. Tuy nhiên, họ chắc chắn cần ăn, tìm được nhà ở và việc làm. Không cần nhiều trí tưởng tượng mới điền được các chi tiết đó. Gia đình Thánh đã phải đối diện với những vấn đề cụ thể như mọi gia đình khác, giống rất nhiều anh chị em di dân của chúng ta, những người ngày nay cũng phải liều mạng sống để thoát khỏi bất hạnh và đói khát. Về vấn đề này, tôi coi Thánh Giuse như bổn mạng đặc biệt của tất cả những người buộc phải rời bỏ quê hương vì chiến tranh, hận thù, bách hại và nghèo đói.

Ở cuối mỗi trình thuật trong đó thánh Giuse đóng một vai trò, Tin Mừng cho chúng ta biết rằng ngài trỗi dậy, đón lấy Hài Nhi và mẹ Người, và thực hiện những gì Thiên Chúa truyền cho ngài (x. Mt 1:24; 2: 14.21). Thật vậy, Chúa Giêsu và Đức Maria, Mẹ Người, là kho tàng đức tin quý giá nhất của chúng ta [21].

Trong kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa, Chúa Con không thể tách rời khỏi Mẹ của Người, khỏi Đức Maria, đấng đã “tiến xa trong cuộc lữ hành đức tin, và trung thành kiên trì kết hợp với Con của ngài cho đến khi ngài đứng dưới chân thập giá” [22].

Chúng ta nên luôn xem xét liệu bản thân chúng ta có đang bảo vệ Chúa Giêsu và Mẹ Maria hay không, vì các ngài cũng được giao phó một cách mầu nhiệm cho trách nhiệm của chúng ta, cho sự chăm sóc và gìn giữ an toàn của chúng ta. Con của Đấng Toàn Năng xuống thế giới của chúng ta trong tình trạng rất dễ bị tổn thương. Người cần được Thánh Giuse che chở, bảo vệ, chăm sóc và nuôi nấng. Thiên Chúa đã tin tưởng Thánh Giuse, giống như Đức Maria, người đã tìm thấy nơi thánh nhân một người không những cứu mạng sống ngài mà còn luôn chu cấp cho ngài và người con của ngài. Theo nghĩa này, Thánh Giuse không thể nào khác hơn là Người Bảo vệ Giáo hội, vì Giáo hội là sự tiếp nối của Thân thể Chúa Kitô trong lịch sử, ngay cả khi tình mẫu tử của Đức Maria được phản ảnh trong tình mẫu tử của Giáo hội [23]. Trong việc tiếp tục bảo vệ Giáo hội, thánh Giuse tiếp tục bảo vệ Hài Nhi và mẹ của Người, và chúng ta cũng vậy, bằng tình yêu của chúng ta đối với Giáo hội, chúng ta tiếp tục yêu mến Hài Nhi và mẹ của Người.

Hài Nhi đó sẽ tiếp tục nói: “Khi các ngươi làm điều đó cho một trong những người nhỏ bé nhất trong gia đình Ta, thì chính ngươi đã làm điều đó cho Ta” (Mt 25:40). Do đó, mọi người nghèo, túng thiếu, đau khổ hoặc sắp chết, mọi người lạ, mọi tù nhân, mọi bệnh tật đều là “hài nhi” được Thánh Giuse tiếp tục bảo vệ. Vì lý do này, Thánh Giuse được cầu khẩn như Đấng che chở người bất hạnh, túng thiếu, lưu đày, đau khổ, nghèo khổ và hấp hối.

Do đó, Giáo hội không thể không biểu lộ tình yêu thương đặc biệt đối với những người anh chị em nhỏ bé nhất của chúng ta, vì Chúa Giêsu đã tỏ ra quan tâm đặc biệt đến họ và đồng nhất với họ. Từ Thánh Giuse, chúng ta cũng phải học được cùng một cách chăm sóc và trách nhiệm như thế. Chúng ta phải học cách yêu thương Hài Nhi và mẹ của Người, yêu các bí tích và đức bác ái, yêu Giáo hội và người nghèo. Mỗi thực tại này luôn là Hài nhi và mẹ của Người.

  1. Một người cha lao động

Một khía cạnh của Thánh Giuse đã được nhấn mạnh từ thời của Thông điệp xã hội đầu tiên, tức thông điệp Rerum Novarum của Đức Giáo Hoàng Leo XIII, là mối liên hệ của ngài với việc làm. Thánh Giuse là một người thợ mộc kiếm sống lương thiện để cung ứng cho gia đình. Từ ngài, Chúa Giêsu học được giá trị, phẩm giá và niềm vui của điều có nghĩa là ăn bánh như thành quả sức lao động của chính mình.

Trong thời đại của chúng ta, khi việc làm một lần nữa trở thành một vấn đề xã hội nóng bỏng, và tỷ lệ thất nghiệp đôi khi lên đến mức kỷ lục ngay ở các quốc gia hàng nhiều thập niên qua vốn hưởng được một mức độ thịnh vượng nào đó, cần phải đánh giá cao một lần nữa tầm quan trọng của việc làm xứng đáng, việc làm mà Thánh Giuse vốn là bổn mạng mẫu mực.

Việc làm là một phương tiện để tham gia vào công trình cứu rỗi, một cơ hội để đẩy nhanh Nước Trời trị đến, để phát triển tài năng và khả năng của chúng ta, và để chúng phục vụ xã hội và tình hiệp thông huynh đệ. Nó trở thành cơ hội cho sự thành toàn không những của bản thân ta, mà còn của tế bào đệ nhất đẳng của xã hội, tức gia đình. Một gia đình không có việc làm đặc biệt dễ gặp khó khăn, căng thẳng, ghẻ lạnh và thậm chí tan vỡ. Làm sao chúng ta có thể nói tới nhân phẩm mà không có việc làm để đảm bảo mọi người đều có thể kiếm được một cuộc sống tử tế?

Những người đang làm việc, bất kể công việc của họ là gì, đều đang hợp tác cách nào đó với chính Thiên Chúa, và một cách nào đó trở thành những người tạo ra thế giới xung quanh chúng ta. Cuộc khủng hoảng của thời đại chúng ta, một cuộc khủng hoảng vốn có tính kinh tế, xã hội, văn hóa và tinh thần, có thể đóng vai trò kêu gọi mọi người chúng ta khám phá lại giá trị, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc làm trong việc đem lại một “bình thường” mới mà không ai bị loại trừ khỏi nó. Việc làm của Thánh Giuse nhắc nhở chúng ta rằng chính Thiên Chúa, khi trở thành người phàm, đã không khinh thường việc làm. Hiện tượng mất việc làm ảnh hưởng đến rất nhiều anh chị em của chúng ta và đã gia tăng do hậu quả của đại dịch Covid-19, nên được xem như một lời hiệu triệu phải duyệt xét các ưu tiên của chúng ta. Chúng ta hãy khẩn cầu Thánh Giuse Thợ giúp chúng ta tìm cách phát biểu niềm tin chắc chắn rằng không một người trẻ nào, không một người nào, không một gia đình nào không có việc làm!

  1. Một người cha trong bóng tối

Nhà văn Ba Lan Jan Dobraczyński, trong cuốn sách The Shadow of Father (Cái Bóng Người Cha) [24], kể câu chuyện về cuộc đời của Thánh Giuse dưới dạng một cuốn tiểu thuyết. Ông sử dụng hình ảnh chiếc bóng đầy gợi hình để định nghĩa Thánh Giuse. Trong mối liên hệ của ngài với Chúa Giêsu, Thánh Giuse là hình bóng trần gian của Chúa Cha trên trời: ngài trông nom và bảo vệ Người, không bao giờ để Người đi theo con đường riêng của mình. Chúng ta có thể nghĩ đến những lời của Môsê nói với Israel: “Trong hoang địa… các ngươi đã thấy Chúa là Thiên Chúa của các ngươi cưu mang các ngươi như thế nào, giống như người bồng đứa con, suốt chặng đường các ngươi đi qua” (Đnl 1:31). Cùng một cách tương tự, Thánh Giuse hành động như một người cha trong suốt cuộc đời của Người [25].

Các người cha không được sinh ra, nhưng được tạo ra. Một người đàn ông không trở thành một người cha chỉ đơn giản bằng cách đem một đứa con vào thế giới, mà bằng cách nhận trách nhiệm chăm sóc đứa con đó. Bất cứ khi nào một người đàn ông nhận trách nhiệm đối với cuộc sống của một người khác, cách nào đó, họ đã trở thành cha của người đó.

Trẻ em ngày nay thường có vẻ mồ côi, thiếu cha. Giáo hội cũng cần những người cha. Lời Thánh Phaolô nói với tín hữu Côrintô vẫn còn hợp thời: “Dù anh em có vô số người hướng dẫn trong Chúa Kitô, nhưng anh em không có nhiều người cha” (1 Cr 4:15). Mọi linh mục hay giám mục nên có thể nói thêm với thánh Tông đồ: “Tôi đã trở thành cha của anh em trong Chúa Giêsu Kitô qua Tin Mừng” (đd). Tương tự như vậy, thánh Phaolô gọi những người Galát: “Hỡi anh em, những người con bé nhỏ của tôi, mà tôi phải quặn đau sinh ra một lần nữa cho đến khi Chúa Kitô được thành hình nơi anh em!” (4:19).

Làm cha đòi hỏi phải dẫn nhập con cái vào cuộc sống và thực tại. Không phải kìm hãm chúng, quá bảo vệ hay chiếm hữu, mà là làm chúng có khả năng tự quyết định, tận hưởng tự do và khám phá những khả năng mới. Có lẽ vì lý do này, Thánh Giuse theo truyền thống được gọi là một người cha “khiết tịnh nhất”. Tước hiệu này không chỉ đơn giản là một dấu chỉ tình âu yếm, mà là một tổng kết cho thái độ đối lập với tính chiếm hữu. Khiết tịnh là tự do thoát khỏi tính chiếm hữu về mọi lĩnh vực đời sống ta. Chỉ khi khiết tịnh, tình yêu mới là đích thực. Một tình yêu chiếm hữu cuối cùng trở nên nguy hiểm: nó cầm tù, giới hạn và khiến người ta khốn khổ. Chính Thiên Chúa đã yêu nhân loại bằng một tình yêu khiết tịnh; Người để chúng ta tự do, thậm chí đi lạc và chống lại chính Người. Luận lý học của tình yêu luôn là luận lý học của tự do, và Thánh Giuse biết yêu một cách tự do phi thường. Ngài không bao giờ biến mình thành trung tâm của mọi sự. Ngài không nghĩ về mình, mà tập chú vào cuộc đời của Đức Maria và Chúa Giêsu.

Thánh Giuse tìm thấy hạnh phúc không chỉ ở sự hy sinh bản thân mà ở sự tự hiến. Nơi ngài, chúng ta không bao giờ thấy sự thất vọng mà chỉ thấy sự tin tưởng. Sự im lặng kiên nhẫn của ngài là khúc dạo đầu cho những biểu thức cụ thể của sự tin tưởng. Thế giới của chúng ta ngày nay cần những người cha. Nó không cần các bạo chúa, những kẻ thống trị người khác như một phương tiện để thỏa mãn các nhu cầu của chính họ. Nó bác bỏ những ai lẫn lộn thẩm quyền với chủ nghĩa độc đoán, phục vụ với nô dịch, thảo luận với áp chế, bác ái với não tạng phúc lợi, quyền lực với hủy diệt. Mỗi ơn gọi đích thực đều phát sinh từ việc tự hiến chính mình, vốn là hoa trái của sự hy sinh trưởng thành. Tương tự như vậy, chức linh mục và đời sống thánh hiến đòi hỏi loại trưởng thành này. Bất kể ơn gọi của chúng ta là gì, dù kết hôn, độc thân hay trinh khiết, việc hiến mình của chúng ta sẽ không thành toàn nếu nó chỉ dừng lại ở sự hy sinh; nếu đúng như thế, thay vì trở thành một dấu hiệu của vẻ đẹp và niềm vui của tình yêu, việc tự hiến sẽ có nguy cơ trở thành biểu thức của bất hạnh, buồn bã và thất vọng.

Khi những người cha từ chối sống cuộc sống của con cái họ vì chúng, những viễn cảnh mới và bất ngờ sẽ mở ra. Mọi đứa con đều mang trong mình một mầu nhiệm độc đáo chỉ có thể đưa ra ánh sáng với sự giúp đỡ của một người cha biết tôn trọng quyền tự do của đứa con đó. Một người cha biết nhận ra rằng mình là một người cha và một nhà giáo dục hơn cả chính ở thời điểm ông trở nên “vô dụng”, lúc ông thấy con mình đã trở nên độc lập và có thể bước đi trên nẻo đường cuộc sống mà không cần người kèm cặp. Khi ông trở nên giống như Thánh Giuse, người luôn biết rằng đứa con của ngài không phải là của ngài mà chỉ đơn thuần được giao cho ngài chăm sóc. Cuối cùng, đó là điều Chúa Giêsu muốn chúng ta hiểu khi Người nói: “Dưới đất, đừng gọi ai là cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha ở trên trời” (Mt 23: 9).

Trong mỗi lần thực thi thiên chức làm cha của mình, chúng ta nên luôn nhớ rằng điều đó không liên quan gì đến việc chiếm hữu, nhưng đúng hơn là một “dấu hiệu” chỉ tình phụ tử lớn hơn. Một cách nào đó, tất cả chúng ta đều giống như thánh Giuse: một cái bóng của Chúa Cha trên trời, Đấng “làm cho mặt trời mọc trên kẻ dữ và người lành, và làm mưa cho kẻ công chính và kẻ bất chính” (Mt 5:45). Và là một chiếc bóng theo Con của Người.

* * *

Thiên Chúa nói với Thánh cả Giuse “Hãy trỗi dậy, dắt Con trẻ và mẹ Người đi” (Mt 2:13).

Mục đích của Tông thư này là gia tăng lòng yêu mến của chúng ta đối với vị thánh vĩ đại này, khuyến khích chúng ta khẩn cầu sự chuyển cầu của ngài và noi gương các nhân đức và lòng nhiệt thành của ngài.

Thật vậy, sứ mệnh riêng của các thánh không chỉ là nhận được các phép lạ và ơn thánh, nhưng là cầu bầu cho chúng ta trước mặt Thiên Chúa, như Ápraham [26] và Môsê [27], và giống như Chúa Giêsu, “Đấng trung gian duy nhất” (1Tm 2: 5), Đấng là người “bênh vực” chúng ta với Chúa Cha (1 Ga 2: 1) và là người “luôn sống để chuyển cầu cho [chúng ta]” (Dt 7:25; x. Rm 8:34).

Các thánh giúp tất cả các tín hữu “phấn đấu để nên thánh và sự hoàn hảo của bậc sống đặc thù của họ” [28]. Cuộc sống của họ là bằng chứng cụ thể cho thấy có thể đem Tin Mừng ra thực hành.

Chúa Giêsu nói với chúng ta: “Hãy học nơi Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11:29). Cuộc đời của các thánh cũng là những tấm gương đáng được noi theo. Thánh Phaolô nói rõ điều này: “Hãy bắt chước tôi!” (1 Cr 4:16) [29]. Bằng sự im lặng hùng hồn của ngài, Thánh Giuse cũng nói như vậy.

Trước tấm gương của rất nhiều người nam nữ thánh thiện, Thánh Augustinô đã tự hỏi: “Điều họ có thể làm, há bạn lại không thể làm sao?” Và do đó, ngài đã tiến gần hơn tới việc trở lại dứt khoát của ngài, khi ngài có thể thốt lên: “Con đã yêu Chúa quá muộn màng, hỡi Vẻ đẹp luôn cổ xưa, luôn mới mẻ!” [30]

Chúng ta chỉ cần cầu xin Thánh Giuse cho được ơn thánh của mọi ơn thánh: đó là sự hoán cải của chúng ta.

Giờ đây, chúng ta hãy cầu nguyện với ngài:

Kính chào, vị bảo vệ Đấng Cứu Chuộc,

Phu quân Đức Diễm Phúc Maria.

Thiên Chúa đã giao phó Con Một của Người cho ngài;

nơi ngài, Đức Maria đã đặt niềm tin của mình;

với ngài, Chúa Kitô đã trở thành phàm nhân.

Lạy Thánh Giuse diễm phúc, xin tỏ cho chúng con thấy ngài là một người cha, và là người hướng dẫn chúng con trên đường đời.

Xin nhận cho chúng con ơn thánh, lòng thương xót và lòng can đảm, và bảo vệ chúng con khỏi mọi sự dữ. Amen.

Ban hành tại Rôma, tại Nhà thờ Gioan Lateranô, ngày 8 tháng 12, Lễ trọng thể Vô nhiễm Nguyên tội của Đức Trinh Nữ Maria, năm 2020, năm thứ tám triều Giáo hoàng của tôi.

Franciscus

Ghi chú

[1] Lc 4:22; Ga 6:42; cf. Mt 13:55; Mc 6:3.

[2] Bộ Phụng Tự, Quemadmodum Deus (8 tháng 12, 1870): ASS 6 (1870-71), 194.

[3] Xem Diễn văn với ACLI Lễ trọng kính Thánh Giuse Thợ (1 tháng 5, 1955): AAS 47 (1955), 406.

[4] Xem Tông huấn Redemptoris Custos (15 tháng 8,1989): AAS 82 (1990), 5-34.

[5] Sách Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo, 1014.

[6] Suy niệm Thời Đại Dịch (27 tháng 3, 2020): L’Osservatore Romano, 29 tháng 3 2020, p. 10.

[7] In Matthaeum Homiliae, V, 3: PG 57, 58.

[8] Bài giảng (19 tháng 3, 1966): Insegnamenti di Paolo VI, IV (1966), 110.

[9] Xem Tự Truyện, 6, 6-8.

[10] Mỗi ngày, trong hơn bốn mươi năm, khi đọc kinh sáng, tôi đã đọc một kinh cầu cùng Thánh Giuse trích từ một cuốn sách cầu nguyện ở Pháp thế kỷ 19 của Dòng Nữ tu Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Nó phát biểu lòng tận tâm và tin tưởng, và thậm chí còn đặt ra một thách thức nào đó cho Thánh Giuse: “Lạy Thánh Tổ Phụ Vinh Quang Giuse, người có quyền biến điều không thể thành có thể, xin đến giúp đỡ con trong những lúc lo âu và khó khăn này. Xin đặt dưới sự che chở của ngài các tình huống nghiêm trọng và rắc rối mà con đã ủy thác nơi ngài, để chúng có thể có một kết quả tốt lành. Lạy cha yêu dấu của con, mọi tin tưởng của con đều đặt nơi cha. Đừng để người ta nói rằng con đã cầu khẩn cha một cách vô ích, và vì cha có thể làm mọi việc với Chúa Giêsu và Mẹ Maria, xin hãy cho con thấy rằng lòng tốt của cha cũng vĩ đại như quyền năng của cha. A-men. ”

[11] Xem Đnl 4:31; Tv 69:16; 78:38; 86:5; 111:4; 116:5; Grm 31:20.

[12] Xem Tông huấn Evangelii Gaudium (24 tháng 11, 2013), 88, 288: AAS 105 (2013), 1057, 1136-1137.

[13] Xem St 20:3; 28:12; 31:11.24; 40:8; 41:1-32; Ds 12:6; 1 Sm 3:3-10; Đn 2, 4; G 33:15.

[14] Trong những trường hợp như thế, đã có dự khoản ném đá (xem Đnl 22:20-21).

[15] Xem Lv 12:1-8; Xh 13:2.

[16] Xem Mt 26:39; Mc 14:36; Lc 22:42.

[17] Thánh Gioan Phaolô II, Tông huấn Redemptoris Custos (15 tháng 8, 1989), 8: AAS 82 (1990), 14.

[18] Bài giảng Thánh lễ và Phong Chân phúc, Villavicencio, Colombia (8 tháng 9, 2017): AAS 109 (2017), 1061.

[19] Enchiridion de fide, spe et caritate, 3.11: PL 40, 236.

[20] Xem Đnl 10:19; Xh 22:20-22; Lc 10:29-37.

[21] Xem Bộ Phụng Tự, Quemadmodum Deus (8 tháng 12, 1870): ASS 6 (1870-1871), 193; Chân phúc Piô IX, Tông thư Inclytum Patriarcham (7 tháng 7, 1871): l.c., 324-327.

[22] Công Đồng Vatican II, Hiến chế tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium, 58.

[23] Sách Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo, 963-970.

[24] Ấn bản gốc: Cień Ojca, Warsaw, 1977.

[25] Xem Thánh Gioan Phaolô II, Tông huấn Redemptoris Custos, 7-8: AAS 82 (1990), 12-16.

[26] Xem St 18:23-32.

[27] Xem Xh 17:8-13; 32:30-35.

[28] Công Đồng Vatican II, Hiến chế tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium, 42.

[29] Xem 1 Cr 11:1; Pl 3:17; 1 Tx 1:6.

[30] Tự thú, VIII, 11, 27: PL 32, 761; X, 27, 38: PL 32, 795.